Thể chất và tinh thần là hai phần
gắn kết chặt chẽ với nhau trong đời sống của một con người. Hai phần này phụ
thuộc và tác động lẫn nhau. Để đảm bảo một đời sống bình an và hạnh phúc thì
hai phần này phải điều hòa và cân bằng với nhau, có nghĩa là cả hai phần phải
luôn khỏe mạnh.
Về phương diện thể chất, để đảm
bảo sức khỏe tốt thì chúng ta phải ăn uống và sinh hoạt điều độ, tức là phải có
chất dinh dưỡng để nuôi sống, phải quan tâm chăm sóc cho thân thể của mình.
Tương tự, để tinh thần được minh mẫn, để tâm thức của mình được nhẹ nhàng, thư
thái, được an vui thì cũng cần phải có những dưỡng chất cho nó và phải có chế độ
làm việc, nghỉ ngơi hợp lý. Nhiều người luôn chăm chút cho phần thân thể, tìm
các món cao lương mỹ vị để bồi bổ cho cơ thể, dùng gấm vóc lụa là để điểm trang
thân thể, rồi còn dùng đến các mỹ phẩm, các đồ trang sức để làm đẹp, nhưng lại
bỏ quên, không quan tâm đến phần tâm thức của bản thân, không có gì làm dưỡng
chất để nuôi dưỡng nó, khiến cho cuộc sống mất cân bằng, trống trãi và khổ đau,
làm cho tinh thần bị suy yếu, tức là sức khỏe tâm thần bị suy nhược.
Theo quan điểm thông thường, sức
khỏe tâm thần có nghĩa là sức khỏe về phương diện tâm lý. Một người có sức khỏe
tâm thần tốt là người không mắc những chứng bệnh rối loạn tâm thần.
Tổ chức Sức khỏe Thế giới thì định
nghĩa, sức khỏe tâm thần là một trạng thái mà ở đó con người có thể nhận thức
rõ khả năng của mình, có thể đối phó với những căng thẳng bình thường trong cuộc
sống, làm việc hiệu quả, thành công và có thể đóng góp cho cộng đồng.
Tâm bệnh là một vấn đề lớn
trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần. Các nhà tâm lý học quan niệm rằng, tâm bệnh
là một dạng bệnh lý hay một tình trạng sức khỏe của cá nhân ảnh hưởng đến cách
suy nghĩ, cảm nhận, phản ứng hay cách ứng xử với người khác và với những thứ
xung quanh. Người bị tâm bệnh là người không có khả năng ứng phó với những nhu
cầu bình thường trong đời sống hằng ngày. Nguyên nhân dẫn đến tâm bệnh thường
khó xác định rõ ràng, ở đó có sự kết hợp của các yếu tố như là gen di truyền,
sinh lý, tâm lý và các yếu tố từ môi trường sống. Trong đó, những ảnh hưởng tâm
lý được các nhà tâm lý học xác định đó là: những sang chấn tâm lý từ thời thơ ấu,
chẳng hạn như bị lạm dụng tình dục, bị lạm dụng sức lao động hay bị hành hạ tàn
nhẫn…; hoặc là bị những sự mất mát lớn, như là bị mất cha, mất mẹ, mất người
thân thích; và bị người thân bỏ mặc, thờ ơ.
Theo quan điểm của Phật giáo,
những vấn đề liên quan đến cách cảm nhận hay phản ứng với người khác, với môi
trường xung quanh không phải là những chứng bệnh nghiêm trọng, khi một người
không có khả năng đánh giá đúng hiện thực xung quanh, không có khả năng để hiểu
đúng bản chất thật của cá nhân mình, không biết được thái độ tâm lý cơ bản của
chính mình mới là vấn đề nghiêm trọng. Một người thường không đánh giá đúng hiện
thực xung quanh, thường hay phóng đại hoặc đánh gia thấp phảm chất của người
khác hoặc các sự vật khi mà người đó tiếp xúc thì dễ gây ra nhiều rắc rối. Và
những nguyên nhân tâm lý dẫn đến tâm bệnh mà các nhà tâm lý học chỉ ra ở trên
chỉ là những nguyên nhân thứ yếu, nguyên nhân chính yếu và sâu xa của các tâm bệnh
là từ chính trong bản thân của mỗi người, chính trong tâm thức, ý nghĩ của mỗi
cá nhân.
Thực ra, tâm bệnh của con người
không chỉ là những rối loạn cảm xúc hay là những bất thường trong các mối quan
hệ xã hội. Nếu chúng ta ví tâm bệnh của con người là một tảng băng trôi trên biển
thì những thứ mà các nhà tâm lý học đề cập đến là phần băng nổi trên mặt biển,
đấy chỉ là một phần rất nhỏ của tảng băng trôi.
Đức Phật được xem là một nhà
tâm lý học kiệt xuất, Ngài đã chỉ ra những tâm bệnh của con người cùng những
nguyên nhân của chúng, và đã đưa ra nhiều phương pháp trị liệu cho các chứng bệnh
ấy.
Đạo Phật quan niệm tâm bệnh là
tâm còn phiền não, bất an. Hay nói cách khác, tâm bệnh tức là trong tâm còn
tích chứa những tâm bất thiện, gây ra khổ đau cho mình, cho người, và tâm còn chịu nhiều nỗi khổ, niềm đau. Những tâm bất
thiện, nói theo Duy thức học là những tâm sở bất thiện, gồm có sáu món căn bản
phiền não: tham lam, sân hận, si mê, khinh mạn, nghi ngờ, ác kiến; hai mươi món
tùy phiền não: giận, hờn, che dấu, buồn phiền, tật đố, bỏn xẻn, dối gạt, nịnh bợ,
tổn hại, kiêu căng, không biết xấu hỗ, không biết thẹn thùng, trạo cử, hôn trần,
không tin tưởng, biếng nhác, buông lung, không chánh niệm, rối loạn, không biết
chơn chánh.
Bên cạnh những tâm biết thiện ấy
là những nỗi đau khổ mà con người thường phải đối mặt trong cuộc sống, đó là:
khổ đau do thân bệnh mang lại, khổ do già nua đưa đến, khổ do sự chết mang lại,
khổ do ghét nhau mà phải gặp nhau, khổ do mong muốn mà không đạt được, khổ do
thương yêu nhau mà phải sống xa nhau. Đây là những khổ đau mà con người thường
xuyên gặp phải. Từ những tâm bất thiện, những khổ đau ấy mà phát sinh ra nhiều
chứng bệnh tâm lý, nhiều bệnh trạng khác nhau.
Về nguyên nhân của khổ đau, của
những tâm bệnh, theo lời Đức Phật dạy, nguyên nhân sâu xa của mọi khổ đau trong
cuộc đời con người là do tham ái mà sinh ra. Vì tham ái nên con người không bao
giờ cảm thấy thỏa mãn, không bao giờ thấy hài lòng với thực tại. Lòng tham ái
và sự vị kỷ, ngã chấp đã che lấp tâm trí con người, khiến người ta hành xử một
cách sai lầm, thế là đau khổ, phát sinh tâm bệnh. Chẳng hạn, vì tham lam nên
con người không bao giờ biết đủ, biết dừng lại trong việc mưu cầu tiền của,
danh vọng, địa vị, tìm đủ mọi cách, tranh thủ mọi thời cơ, thời gian để tìm cầu,
để đạt cho bằng được, cho nên bị stress; vì luyến ái, không nhận được lẽ vô thường
của sự sống nên khi bị mất người thân thì sinh sầu khổ, thất vọng và hụt hẫng,
suốt ngày sống trong thương tiếc, đau buồn cho nên dẫn đến trầm cảm, suy nhược
tinh thần…
Thông thường, khi bị khổ đau
thì người ta lại không dám đối diện với nỗi khổ đau của mình mà lại tìm cách
lãng tránh hoặc mượn những thú vui vật chất, những niềm vui nhất thời để tạm thời
quên đi sự đau khổ hiện tại. Nhưng càng lãng tránh thì nỗi đau càng thêm chất
chồng, hết nỗi đau này lại đến nỗi khổ khác. Chỉ khi nào người ta biết đối diện
với thực tại, nhìn sâu vào nỗi khổ niềm đau của mình để tìm thấy được cội nguồn
của khổ đau, nguyên nhân sinh khởi của khổ đau thì mới có cơ may chuyển hóa hoặc
đoạn trừ hết những khổ đau ấy.
Nhìn thẳng vào vấn đề, phân
tích và quán xét thực trang của khổ đau để hiểu bản chất căn bản của khổ đau,
thấy được nguyên nhân cốt lõi của khổ đau có nghĩa là đã bước đầu làm vơi bớt
khổ đau, là thực hiện được khâu đầu tiên trong quá trình chuyển hóa khổ đau,
làm lành mạnh hóa tâm thức của mình. Nếu không thấy được bản chất của khổ đau,
không biết nguyên nhân sinh khởi của khổ đau ấy thì không thể nào đoạn diệt được
khổ đau. Hầu hết các nguyên nhân đều phát sinh từ chính trong tâm thức của
mình, đều do tham, sân, si của mình mà ra cả, các tác nhân bên ngoài chỉ là tác
nhân phụ, chỉ là chất xúc tác mà thôi.
Một khi đã biết được bản chất của
khổ đau, nguyên nhân sinh khởi của nó thì mới có thể lựa chọn liệu pháp phù hợp
cho việc chuyển hóa và trị liệu nó. Đức Thế Tôn đã dạy rất nhiều liệu pháp để
chữa trị tâm bệnh, để thanh lọc thân tâm. Tùy theo đặc điểm, bản chất tâm bệnh
của mỗi người mà lựa chon liệu pháp cho phù hợp. Nếu là khổ đau do tham dục, chấp
thủ gây nên thì thực tập pháp quán vô thường để luôn ý thức rằng mọi thứ đều
không thường tồn mãi mãi, có đó rồi mất đó để đừng bàm víu, đừng chạy theo danh
theo lợi; bên cạnh đó còn thực tập nếp sống thiểu dục tri túc để điều hòa thân
tâm. Nếu khổ đau do nóng giận, hận thù gây nên thì thực tập phương pháp quán từ
bi và tập buông xả; tập quán từ bi để mở rộng lòng thương yêu, bao dung đối với
mọi người, mọi loài, bao dung cả với những người làm khổ mình, những người hãm
hại mình, không còn ôm mối hận thù chất ngất trong lòng để rồi giày vò, đốt
cháy tâm can mình mỗi ngày nữa…
Đức Phật đã dạy nhiều phương
pháp tu tập, chuyển hóa thân tâm, nhưng không ra ngoài ba yếu tố cơ bản, đó là
giới, định và tuệ. Giới được hiểu là những nguyên tắc, những khuôn phép đạo đức
trong cuộc sống, những quy chuẩn để xây dựng lối sống lành mạnh. Định là những
phương pháp thiền định giúp tập trung tâm ý, tạo nên sự định tĩnh, sáng suốt và
bình an trong tâm hồn. Tuệ ở đây là tuệ giác, là sự hiểu thấu, nhìn rõ bản chất
của mọi vấn đề trong cuộc sống. Tuệ ở đây là kết quả của sự tu tập giới và định
chứ không phải là do học vấn mà có được. Giáo lý của Đức Phật được xem là những
lời khuyên thiết thực về lối sống lành mạnh. Lối sống mà Đức Phật đã dạy cho
các đệ tử của Ngài đến hôm nay vẫn còn giá trị. Có thể khẳng định rằng, giới -
định - tuệ là ba nhân tố quan trọng nhất để có được một tâm thức lành mạnh.
Như vậy, theo quan điểm của đạo
Phật, người có sức khỏe tâm thần tốt là người sống không vị kỷ, luôn quan tâm đến
mọi người, mọi loài xung quanh, đặt lợi ích và hạnh phúc của người khác lên trên
lợi ích và niềm vui của chính mình; là người sống vị tha, bao dung với mọi người.
Người có sức khỏe tâm thần tốt còn là người biết vận dụng các pháp tu để thanh
lọc thân tâm, đoạn trừ bớt các tâm bất thiện, các phiền não, nhiễm ô ở trong
lòng, chuyển hóa bớt những nỗi khổ, niềm đau của bản thân. Chúng ta có thể suy
ra rằng, người có sức khỏe tâm thần tốt là người luôn sống trong an lạc, hạnh
phúc và luôn làm những việc lợi ích cho bản thân, cho gia đình và cho xã hội.
Hoàng
Minh Phú
Nguồn: NS Giác Ngộ
Nguồn: NS Giác Ngộ

Comments
Post a Comment