Skip to main content

Phật Giáo Và Sức Khỏe Tâm Thần

Thể chất và tinh thần là hai phần gắn kết chặt chẽ với nhau trong đời sống của một con người. Hai phần này phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Để đảm bảo một đời sống bình an và hạnh phúc thì hai phần này phải điều hòa và cân bằng với nhau, có nghĩa là cả hai phần phải luôn khỏe mạnh.


Về phương diện thể chất, để đảm bảo sức khỏe tốt thì chúng ta phải ăn uống và sinh hoạt điều độ, tức là phải có chất dinh dưỡng để nuôi sống, phải quan tâm chăm sóc cho thân thể của mình. Tương tự, để tinh thần được minh mẫn, để tâm thức của mình được nhẹ nhàng, thư thái, được an vui thì cũng cần phải có những dưỡng chất cho nó và phải có chế độ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý. Nhiều người luôn chăm chút cho phần thân thể, tìm các món cao lương mỹ vị để bồi bổ cho cơ thể, dùng gấm vóc lụa là để điểm trang thân thể, rồi còn dùng đến các mỹ phẩm, các đồ trang sức để làm đẹp, nhưng lại bỏ quên, không quan tâm đến phần tâm thức của bản thân, không có gì làm dưỡng chất để nuôi dưỡng nó, khiến cho cuộc sống mất cân bằng, trống trãi và khổ đau, làm cho tinh thần bị suy yếu, tức là sức khỏe tâm thần bị suy nhược.
Theo quan điểm thông thường, sức khỏe tâm thần có nghĩa là sức khỏe về phương diện tâm lý. Một người có sức khỏe tâm thần tốt là người không mắc những chứng bệnh rối loạn tâm thần.
Tổ chức Sức khỏe Thế giới thì định nghĩa, sức khỏe tâm thần là một trạng thái mà ở đó con người có thể nhận thức rõ khả năng của mình, có thể đối phó với những căng thẳng bình thường trong cuộc sống, làm việc hiệu quả, thành công và có thể đóng góp cho cộng đồng.
Tâm bệnh là một vấn đề lớn trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần. Các nhà tâm lý học quan niệm rằng, tâm bệnh là một dạng bệnh lý hay một tình trạng sức khỏe của cá nhân ảnh hưởng đến cách suy nghĩ, cảm nhận, phản ứng hay cách ứng xử với người khác và với những thứ xung quanh. Người bị tâm bệnh là người không có khả năng ứng phó với những nhu cầu bình thường trong đời sống hằng ngày. Nguyên nhân dẫn đến tâm bệnh thường khó xác định rõ ràng, ở đó có sự kết hợp của các yếu tố như là gen di truyền, sinh lý, tâm lý và các yếu tố từ môi trường sống. Trong đó, những ảnh hưởng tâm lý được các nhà tâm lý học xác định đó là: những sang chấn tâm lý từ thời thơ ấu, chẳng hạn như bị lạm dụng tình dục, bị lạm dụng sức lao động hay bị hành hạ tàn nhẫn…; hoặc là bị những sự mất mát lớn, như là bị mất cha, mất mẹ, mất người thân thích; và bị người thân bỏ mặc, thờ ơ.
Theo quan điểm của Phật giáo, những vấn đề liên quan đến cách cảm nhận hay phản ứng với người khác, với môi trường xung quanh không phải là những chứng bệnh nghiêm trọng, khi một người không có khả năng đánh giá đúng hiện thực xung quanh, không có khả năng để hiểu đúng bản chất thật của cá nhân mình, không biết được thái độ tâm lý cơ bản của chính mình mới là vấn đề nghiêm trọng. Một người thường không đánh giá đúng hiện thực xung quanh, thường hay phóng đại hoặc đánh gia thấp phảm chất của người khác hoặc các sự vật khi mà người đó tiếp xúc thì dễ gây ra nhiều rắc rối. Và những nguyên nhân tâm lý dẫn đến tâm bệnh mà các nhà tâm lý học chỉ ra ở trên chỉ là những nguyên nhân thứ yếu, nguyên nhân chính yếu và sâu xa của các tâm bệnh là từ chính trong bản thân của mỗi người, chính trong tâm thức, ý nghĩ của mỗi cá nhân.
Thực ra, tâm bệnh của con người không chỉ là những rối loạn cảm xúc hay là những bất thường trong các mối quan hệ xã hội. Nếu chúng ta ví tâm bệnh của con người là một tảng băng trôi trên biển thì những thứ mà các nhà tâm lý học đề cập đến là phần băng nổi trên mặt biển, đấy chỉ là một phần rất nhỏ của tảng băng trôi.
Đức Phật được xem là một nhà tâm lý học kiệt xuất, Ngài đã chỉ ra những tâm bệnh của con người cùng những nguyên nhân của chúng, và đã đưa ra nhiều phương pháp trị liệu cho các chứng bệnh ấy.
Đạo Phật quan niệm tâm bệnh là tâm còn phiền não, bất an. Hay nói cách khác, tâm bệnh tức là trong tâm còn tích chứa những tâm bất thiện, gây ra khổ đau cho mình, cho người, và tâm  còn chịu nhiều nỗi khổ, niềm đau. Những tâm bất thiện, nói theo Duy thức học là những tâm sở bất thiện, gồm có sáu món căn bản phiền não: tham lam, sân hận, si mê, khinh mạn, nghi ngờ, ác kiến; hai mươi món tùy phiền não: giận, hờn, che dấu, buồn phiền, tật đố, bỏn xẻn, dối gạt, nịnh bợ, tổn hại, kiêu căng, không biết xấu hỗ, không biết thẹn thùng, trạo cử, hôn trần, không tin tưởng, biếng nhác, buông lung, không chánh niệm, rối loạn, không biết chơn chánh.
Bên cạnh những tâm biết thiện ấy là những nỗi đau khổ mà con người thường phải đối mặt trong cuộc sống, đó là: khổ đau do thân bệnh mang lại, khổ do già nua đưa đến, khổ do sự chết mang lại, khổ do ghét nhau mà phải gặp nhau, khổ do mong muốn mà không đạt được, khổ do thương yêu nhau mà phải sống xa nhau. Đây là những khổ đau mà con người thường xuyên gặp phải. Từ những tâm bất thiện, những khổ đau ấy mà phát sinh ra nhiều chứng bệnh tâm lý, nhiều bệnh trạng khác nhau.
Về nguyên nhân của khổ đau, của những tâm bệnh, theo lời Đức Phật dạy, nguyên nhân sâu xa của mọi khổ đau trong cuộc đời con người là do tham ái mà sinh ra. Vì tham ái nên con người không bao giờ cảm thấy thỏa mãn, không bao giờ thấy hài lòng với thực tại. Lòng tham ái và sự vị kỷ, ngã chấp đã che lấp tâm trí con người, khiến người ta hành xử một cách sai lầm, thế là đau khổ, phát sinh tâm bệnh. Chẳng hạn, vì tham lam nên con người không bao giờ biết đủ, biết dừng lại trong việc mưu cầu tiền của, danh vọng, địa vị, tìm đủ mọi cách, tranh thủ mọi thời cơ, thời gian để tìm cầu, để đạt cho bằng được, cho nên bị stress; vì luyến ái, không nhận được lẽ vô thường của sự sống nên khi bị mất người thân thì sinh sầu khổ, thất vọng và hụt hẫng, suốt ngày sống trong thương tiếc, đau buồn cho nên dẫn đến trầm cảm, suy nhược tinh thần…
Thông thường, khi bị khổ đau thì người ta lại không dám đối diện với nỗi khổ đau của mình mà lại tìm cách lãng tránh hoặc mượn những thú vui vật chất, những niềm vui nhất thời để tạm thời quên đi sự đau khổ hiện tại. Nhưng càng lãng tránh thì nỗi đau càng thêm chất chồng, hết nỗi đau này lại đến nỗi khổ khác. Chỉ khi nào người ta biết đối diện với thực tại, nhìn sâu vào nỗi khổ niềm đau của mình để tìm thấy được cội nguồn của khổ đau, nguyên nhân sinh khởi của khổ đau thì mới có cơ may chuyển hóa hoặc đoạn trừ hết những khổ đau ấy.
Nhìn thẳng vào vấn đề, phân tích và quán xét thực trang của khổ đau để hiểu bản chất căn bản của khổ đau, thấy được nguyên nhân cốt lõi của khổ đau có nghĩa là đã bước đầu làm vơi bớt khổ đau, là thực hiện được khâu đầu tiên trong quá trình chuyển hóa khổ đau, làm lành mạnh hóa tâm thức của mình. Nếu không thấy được bản chất của khổ đau, không biết nguyên nhân sinh khởi của khổ đau ấy thì không thể nào đoạn diệt được khổ đau. Hầu hết các nguyên nhân đều phát sinh từ chính trong tâm thức của mình, đều do tham, sân, si của mình mà ra cả, các tác nhân bên ngoài chỉ là tác nhân phụ, chỉ là chất xúc tác mà thôi.
Một khi đã biết được bản chất của khổ đau, nguyên nhân sinh khởi của nó thì mới có thể lựa chọn liệu pháp phù hợp cho việc chuyển hóa và trị liệu nó. Đức Thế Tôn đã dạy rất nhiều liệu pháp để chữa trị tâm bệnh, để thanh lọc thân tâm. Tùy theo đặc điểm, bản chất tâm bệnh của mỗi người mà lựa chon liệu pháp cho phù hợp. Nếu là khổ đau do tham dục, chấp thủ gây nên thì thực tập pháp quán vô thường để luôn ý thức rằng mọi thứ đều không thường tồn mãi mãi, có đó rồi mất đó để đừng bàm víu, đừng chạy theo danh theo lợi; bên cạnh đó còn thực tập nếp sống thiểu dục tri túc để điều hòa thân tâm. Nếu khổ đau do nóng giận, hận thù gây nên thì thực tập phương pháp quán từ bi và tập buông xả; tập quán từ bi để mở rộng lòng thương yêu, bao dung đối với mọi người, mọi loài, bao dung cả với những người làm khổ mình, những người hãm hại mình, không còn ôm mối hận thù chất ngất trong lòng để rồi giày vò, đốt cháy tâm can mình mỗi ngày nữa…
Đức Phật đã dạy nhiều phương pháp tu tập, chuyển hóa thân tâm, nhưng không ra ngoài ba yếu tố cơ bản, đó là giới, định và tuệ. Giới được hiểu là những nguyên tắc, những khuôn phép đạo đức trong cuộc sống, những quy chuẩn để xây dựng lối sống lành mạnh. Định là những phương pháp thiền định giúp tập trung tâm ý, tạo nên sự định tĩnh, sáng suốt và bình an trong tâm hồn. Tuệ ở đây là tuệ giác, là sự hiểu thấu, nhìn rõ bản chất của mọi vấn đề trong cuộc sống. Tuệ ở đây là kết quả của sự tu tập giới và định chứ không phải là do học vấn mà có được. Giáo lý của Đức Phật được xem là những lời khuyên thiết thực về lối sống lành mạnh. Lối sống mà Đức Phật đã dạy cho các đệ tử của Ngài đến hôm nay vẫn còn giá trị. Có thể khẳng định rằng, giới - định - tuệ là ba nhân tố quan trọng nhất để có được một tâm thức lành mạnh.
Như vậy, theo quan điểm của đạo Phật, người có sức khỏe tâm thần tốt là người sống không vị kỷ, luôn quan tâm đến mọi người, mọi loài xung quanh, đặt lợi ích và hạnh phúc của người khác lên trên lợi ích và niềm vui của chính mình; là người sống vị tha, bao dung với mọi người. Người có sức khỏe tâm thần tốt còn là người biết vận dụng các pháp tu để thanh lọc thân tâm, đoạn trừ bớt các tâm bất thiện, các phiền não, nhiễm ô ở trong lòng, chuyển hóa bớt những nỗi khổ, niềm đau của bản thân. Chúng ta có thể suy ra rằng, người có sức khỏe tâm thần tốt là người luôn sống trong an lạc, hạnh phúc và luôn làm những việc lợi ích cho bản thân, cho gia đình và cho xã hội.
Hoàng Minh Phú                                                                 
Nguồn: NS Giác Ngộ

Comments

Popular posts from this blog

Ebook Trọn Bộ Kinh Nikaya và A Hàm

Mình có sưu tập được trọn bộ sách ebook về kinh Nikaya và kinh A Hàm tiếng Việt, nay xin đưa lên đây để cho những ai muốn tìm hiểu kinh điển của đạo Phật có thể tải về để học hỏi, nghiên cứu. Tải bộ kinh Nikaya do HT. Minh Châu dịch về từ đây. Đường link này sẽ dẫn đến một folder chứa đầy đủ năm bộ kinh Nikaya. Tuy nhiên, bộ kinh Nikaya này được tạo ra dưới dạng file *.prc, để đọc được nó thì cần phải có phần mềm thích hợp. Đây là đường link để mọi người tải phần mềm đó về nè, phần mềm miễn phí 100%. Nhấn vào đây để tải phần mềm đọc file *.prc Còn bộ kinh A Hàm do TT. Thích Tuệ Sĩ dịch thì được tạo ra dưới dạng file pdf. Phần mềm để đọc dạng file này thì mọi người đều đã biết rồi. Nhấn vào đây để tải kinh A Hàm về Nếu mọi người thấy những đường link này hữu dụng thì đừng quên để lại vài lời "phê phán" để động viên tinh thần cho mình nhé.  Chúc an lành đến cho tất cả.

Sư giả đi khất thực tràn lan, làm sao đẩy lùi?

Trong những năm gần đây, nạn sư giả đi khất thực tràn lan trên nhiều tỉnh thành từ Bắc chí Nam, đặc biệt là vào những mùa lễ hội tại các ngôi chùa, ngôi đền có nhiều tín đồ đến viếng, hoặc tại những nơi đông dân cư, nhiều người qua lại. Giả sư ngồi trước cửa chùa Bà Đá xin tiền Vào những ngày đầu năm Giáp Ngọ, theo phản ánh của báo chí thì cũng có rất nhiều người giả dạng nhà sư để đi khất thực tại những ngôi chùa, ngôi đền lớn, tại các khu lễ hội, khu chợ, các thành phố lớn… Vì họ không phải là nhà sư thực thụ nên cả cách ăn mặc lẫn hành vi của họ đều không đúng quy cách của người tu hành nên đã gây ảnh hưởng xấu đến Phật giáo, làm mất niềm tin của tín đồ và người dân đối với đạo Phật, làm giảm uy tín của hàng tu sĩ Phật giáo, nhất là với những người thiếu hiểu biết. Có thể nói, việc giả dạng nhà sư đi khất thực đã trở thành một tệ nạn của xã hội. Nhiều đối tượng đã lấy việc giả dạng nhà sư đi khất thực để làm nghề mưu sinh của mình, họ lợi dụng lòng tốt của tín đồ, người dân đ...

Sri Lanka: Cộng đồng Phật giáo mừng lễ hội Poson

Mười hai triệu Phật tử ở Sri Lanka đã tổ chức lễ hội Poson vào ngày trăng tròn tháng 6 năm 2014. Dù gặp phải những cơn mưa xối xả, nhưng các thành phố và các ngôi chùa đều tràn ngập du khách và người hành hương thuộc tất cả mọi lứa tuổi. Một vài số thành phố đã thiết trí những lễ đài (Pandols) và treo lồng đèn mô tả sự tích về sự xuất hiện của Phật giáo ở Sri Lanka. Các lễ đài diễn tả những câu chuyện về Phật giáo bằng cách sử dụng các hình ảnh, ánh sáng và âm thanh. Những câu chuyện tiền thân được vẽ trên bảng lớn rồi dựng lên trên lễ đài có thể cao đến 10 mét. Những ngôi nhà lấp lánh đèn dầu dừa màu sắc rực rỡ, và những đồ trang trí đã làm cho khu dân cư trở nên sinh động và mở cửa đón chào du khách. Tổng thống Mahinda Rajapaksa kính lễ gốc cây bồ đề thiêng liêng tại Anuradhapura Poson là một sự kiện quan trọng hàng năm trong lịch Phật giáo Sri Lanka nhằm kỷ niệm sự xuất hiện của Phật giáo ở Sri Lanka vào thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch, dưới thời trị vì của vua Devanam Piyat...