Gary Snyder đã từng nói: “Lòng
nhân từ của phương Tây đã tạo nên cuộc cách mạng xã hội. Lòng nhân từ của
phương Đông đã tạo nên cái nhìn sâu sắc của cá nhân về bản ngã cơ bản/không thật.
Chúng ta cần cả hai”.
Nói một cách khác, lý tưởng cao
nhất của truyền thống phương Tây đã dẫn đến việc tái cơ cấu xã hội để tạo ra một
xã hội công bằng. Mục tiêu quan trọng nhất đối với Phật giáo là để được tỉnh thức
và nhận ra bản chất thật sự của con người, và việc này dẫn đến chấm dứt khổ đau
vì sự ảo tưởng về một tự ngã riêng biệt. Ngày nay xã hội cho chúng ta thấy rõ
ràng là chúng ta cần cả hai: không chỉ vì những lý tưởng này bổ sung cho nhau, mà
vì mỗi phương án của bên này đều cần đến sự hỗ trợ của bên kia.
Những khái niệm phương Tây về
công bằng xã hội có thể được bắt nguồn từ những truyền thống của Abraham, đặc
biệt là các nhà tiên tri người Do Thái, những người đã phản đối các nhà cầm quyền
áp bức bóc lột người nghèo và người không có quyền lực. Chẳng hạn như nhà tiên
tri Isaiah đã than phiền rằng: “Những người viết ra đạo luật áp bức để dẹp sang
một bên vấn đề công lý đối với người nghèo và để họ có quyền bắt bớ người
nghèo, rằng góa phụ có thể là chiến lợi phẩm của bạn, và bạn có thể biến những đứa
trẻ mồ côi thành con mồi của bạn”. Bằng việc nói lên sự thật trước thế lực cường
quyền, các nhà tiên tri đã đòi công lý cho người bị áp bức, người bị chịu đựng
những điều có thể gọi là nỗi khổ xã hội.
Điều nhấn mạnh của Abraham kết
hợp với sự hiện thực hóa ở Hy Lạp rằng, xã hội có thể được ái cơ cấu, cuối cùng
đã dẫn đến mối quan tâm hiện đại của chúng ta trong việc theo đuổi công bằng xã
hội thông qua cải cách thể chế chính trị và kinh tế. Điều này không chỉ bao gồm
dân chủ và các công đoàn lao động mà cả những phong trào nhân quyền (như là việc
bãi bỏ chế độ nô lệ, phong trào dân quyền, nữ quyền, giải phóng đồng tính…),
không có vấn đề nào trong số đó là một mối quan tâm đặc biệt trong truyền thống
Phật giáo. Mặc dù những cuộc cải cách ấy rất có giá trị, nhưng những hạn chế của
phương pháp tiếp cận mang tính phô trương ấy đang dần lộ rõ. Ngay cả hệ thống
kinh tế và chính trị tốt nhất có thể cũng không thể đảm bảo là sẽ hoạt động tốt
nếu những người sử dụng hệ thống ấy được thúc đẩy bởi tham lam, sân hận và si
mê - ba món hại độc mà Phật giáo đã xác định là những động cơ không lành mạnh,
cần phải được chuyển hóa thành những yếu tố tích cực hơn, đó là sự rộng lượng,
lòng từ bi và trí tuệ.
Có lẽ điều này giúp chúng ta hiểu
tại sao rất nhiều cuộc cách mạng chính trị đã bị chấm dứt bằng việc một băng
nhóm côn đồ thuộc băng đảng khác lên thay thế. Bắt đầu với những bài học đầu
tiên ở Hy Lạp, và được hỗ trợ bởi bài học đương đại ở Mỹ, có rất nhiều bằng chứng
cho thấy rằng, nền dân chủ không làm tốt nhiệm vụ của nó trong chừng mực nó chỉ
đơn giản là sẽ trở thành một hệ thống cho các cá nhân và các nhóm có quyền lực thao
túng và bóc lột.
Sự thật không may này cho thấy
rằng, trọng tâm hiện đại của chúng ta trong việc biến đổi xã hội - cơ cấu lại tổ
chức để cho xã hội công bằng hơn - là cần thiết nhưng chưa đủ. Điều đó dẫn
chúng ta đến với Phật giáo trong việc nhắm vào sự chuyển hóa cá nhân.
Tôi không rõ lắm về những gì
trong lịch sử Phật giáo có thể so sánh với mối quan tâm của phương Tây về công
bằng xã hội. Mặc dù giáo lý về nghiệp giúp chúng ta hiểu sự công bằng xã hội
như là một điều luật khách quan được tạo ra trong vũ trụ, xét về mặt lịch sử thì
nghiệp có chức năng khác. Kết hợp với giáo lý về tái sinh, có vẻ như ngụ ý rằng
chúng ta không cần phải quan tâm đến việc thúc đẩy công bằng xã hội, bởi vì sớm
muộn gì thì mọi người cũng đều nhận được những thứ họ xứng đáng được nhận.
Trong thực tế, điều này thường khuyến khích người ta thụ động và chấp nhận tình
trạng hiện có của mình chứ không phải là quyết tâm để thúc đẩy công bằng xã hội.
Theo kinh điển Pali, Đức Phật đã tham khảo ý kiến của các vị vua và cho họ lời
khuyên, nhưng dường như Ngài không gọt giũa chúng theo cách mà các tiên tri Do
Thái đã làm. Tăng đoàn cũng đã không làm như vậy sau khi Ngài nhập niết-bàn.
Sự nhấn mạnh của Phật giáo về sự
thật khổ đau tạo ra một sự tương đương tốt hơn so với khái niệm công bằng của
phương Tây. Trong lịch sử, Phật giáo Á châu đã tập trung vào nỗi khổ và nghiệp của
cá nhân, một sự giới hạn mà có thể là cần thiết để tồn tại khi một số nhà cầm
quyền độc tài đàn áp Phật giáo. Đức Phật đã nhấn mạnh rằng những điều Ngài dạy không
ngoài sự thật khổ đau và phương pháp để diệt khổ. Phải chăng Ngài chỉ nghĩ đến
sự đau khổ của cá nhân - kết quả từ suy nghĩ và hành động của chúng ta - hay là
Ngài có thể đã có một tầm nhìn xã hội rộng lớn hơn, bao trùm cả sự khổ đau thuộc
về cấu trúc xã hội: khổ đau gây ra bởi nhà cầm quyền áp bức và các tổ chức bất
công? Một số học giả như Trevor Ling và Nalin Swaris đã lập luận rằng, Đức Phật
có thể đã có ý định bắt đầu một phong trào biến đổi xã hội, thay vì chỉ đơn thuần
là thiết lập một hệ thống tự viện với các giá trị thay thế cho trào lưu thông
thường. Chắc chắn thái độ của Ngài đối với phụ nữ và đẳng cấp là cực kỳ tiến bộ
vào thời bấy giờ.
Dầu thế nào đi nữa thì Phật
giáo trong giai đoạn đầu với tư cách là một tổ chức cũng đã sớm đi đến một sự
thỏa hiệp với nhà nước, trong một mức độ nào đó thì Phật giáo dựa vào sự hỗ trợ
của các vị vua và hoàng đế. Và nếu bạn muốn được hỗ trợ bởi các nhà cầm quyền đương
thời, bạn cần hỗ trợ tốt hơn cho các nhà cầm quyền. Bởi vì không có xã hội Phật
giáo châu Á nào là xã hội dân chủ để rồi đặt ra những giới hạn về các loại khổ đau
mà các vị thầy Phật giáo có thể nhấn mạnh. Tại những nơi Phật giáo phát triển đã
không có nhắm vào việc giải quyết các chính sách bóc lột của những nhà cầm quyền,
vấn đề này cuối cùng chỉ có thể được giải quyết bởi một vài sự chuyển đổi thể
chế. Ngược lại, giáo lý nghiệp và tái sinh có thể dễ dàng được sử dụng, và đã
được sử dụng để hợp pháp hóa quyền lực của các vị vua và các hoàng tử, những
người được quyền gặt hái thành quả từ các hành động nhân từ của họ trong đời
quá khứ, cũng như để giải thích cho việc không có quyền lực của những người
sinh ra đã bị nghèo hoặc bị khuyết tật, những người đang phải nhận lãnh những hậu
quả của các hành động bất thiện của họ trong những kiếp trước.
Kết quả là Phật giáo đã tồn tại
và phát triển mạnh, truyền bá rộng rãi nhất tại châu Á và đã phát triển bộ sưu
tập đặc biệt về những phương pháp hành thiền có thể giúp chúng ta thay đổi
chính mình. Rõ ràng, điều chú trọng trong Phật giáo là sự phát triển tâm linh của
cá nhân. Ngày nay, Phật giáo toàn cầu hoá đã tạo ra một tình hình mới, trong hầu
hết các địa phương mà ở đấy Phật giáo có mặt, Phật giáo không còn bị chính phủ
đàn áp, và chúng ta hiểu biết hơn về những nguyên nhân của khổ đau thuộc về cấu
trúc xã hội. Toàn cầu hóa của nền dân chủ, nhân quyền, và tự do ngôn luận đã mở
ra những cách thức mới để đối phó với nỗi khổ thuộc về đế chế và xã hội.
Phải thừa nhận rằng, một vài trong
số những ngụ ý về sự hiểu biết rộng hơn về khổ, và trách nhiệm lớn hơn trong việc
giải quyết nỗi khổ thuộc về cấu trúc xã hội là khá triệt để. Chúng yêu cầu suy
nghĩ lại về một số giáo lý căn bản của Phật giáo, bắt đầu là về giáo lý nghiệp
báo. Quan điểm Phật giáo truyền thống về dòng nghiệp thức của mỗi người với tư
cách cá nhân và riêng lẽ thường được hiểu với ý nghĩa rằng, chính bản thân tôi chịu
trách nhiệm tối cao cho những gì xảy ra với tôi: đó là kết quả của các hành động
trước đó (thiện và bất thiện) của tôi. Ngày nay chúng ta ý thức hơn về sự đau
khổ được tạo ra bởi các tổ chức chính trị, kinh tế và quân sự, và tầm quan trọng
của việc tìm kiếm phương thức để giải quyết những nguyên nhân của sự đau khổ do
cấu trúc xã hội gây ra, điều này đưa chúng ta đến rất gần với mối quan tâm của Abraham
về công bằng xã hội.
Một cách khác để diễn tả mối
tương quan giữa các lý tưởng phương Tây về biến đổi xã hội (để giải quyết nỗi khổ
xã hội) và mục tiêu của Phật giáo về chuyển hóa cá nhân (giải quyết nỗi khổ cá
nhân) là nói đến những loại khác nhau của sự tự do. Vấn đề trọng tâm của phương
Tây hiện đại là đề cập đến sự tự do cá nhân đối với các tổ chức đàn áp, một ví
dụ điển hình là Tuyên ngôn Nhân quyền đã được đưa vào Hiến pháp Hoa Kỳ. Vấn đề
trọng tâm của Phật giáo (và một số truyền thống tôn giáo khác của Ấn Độ) là về
điều có thể được gọi là tự do tâm lý-tâm linh. Tự do cho bản thân hoặc thoát ra
ngoài sự ràng buộc của bản ngã. Ngày nay chúng ta có thể thấy rõ hơn về những hạn
chế của chính những sự tự do đấy. Tôi đạt được gì nếu tôi tự do khỏi sự kiểm
soát bên ngoài nhưng vẫn còn nằm trong sự ràng buộc của tham lam, sân hận và si
mê của cá nhân tôi? Và sự ý thức từ việc ảo tưởng về một bản ngã riêng biệt, tự
nó sẽ không giải thoát được cho mình, cũng như cho tất cả những ai mà chúng ta còn
phụ thuộc vào họ; và việc ý thức về sự đau khổ được kéo dài bởi một hệ thống
kinh tế bóc lột và một chính phủ áp bức cũng vậy. Chúng ta cần phải hiện thực
hóa cả hai lý tưởng để được tự do thực sự.
David Loy - Minh Nguyên dịch
(Theo Huffington Post)
Nguồn: Nguyệt san Giác Ngộ
(Theo Huffington Post)
Nguồn: Nguyệt san Giác Ngộ

Comments
Post a Comment