Dẫn nhập :
Mỗi một con
người sống trên cõi đời này không có ai giống ai hoàn toàn cả về hình dáng bên
ngoài lẫn nội tâm bên trong. Có người sung sướng, có kẻ khổ đau, có người giàu
sang quyền quí, kẻ thì nghèo đói, thấp hèn, có người sống lâu có người mệnh
yểu, có người thông minh và có người không thông minh,… Ngay anh chị em trong
một gia đình, thậm chí những người sinh đôi cùng trứng cũng vẫn tồn tại những
điểm sai khác nhau.
Tất cả sự
khác nhau này, theo như Phật giáo thì chúng không phải là sự ngẫu nhiên, may
rủi hay là do bàn tay có năng lực siêu hình nào đó nắm quyền quyết định.
Sở dĩ có sự
khác nhau như vậy là vì tất cả các sự vật, hiện tượng trong hiện tượng giới này
đều vận hành theo các qui luật khách quan, bình đẳng của nhân sinh, vũ trụ, qui
luật có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sai biệt trên là luật nhân quả, nghiệp báo.
Nội dung:
Nội dung của
luật nhân quả:
Những đặc
tính của luật nhân quả:
Nhân chính
là nguyên nhân và quả là kết quả. Trong hiện tướng giới này, mỗi hiện hữu đều
có nguyên nhân của nó. Nguyên nhân của sự có mặt các hiện hữu gọi là nhân và sự
có mặt của hiện hữu ấy có quả.
Nói đến nhân
quả là nói đến sự tương quan, tương quan này là mối tương quan vòng tròn (hay
xoắn ốc), có nghĩa là trong nhân có quả và trong quả có nhân. Chính trong nhân
hiện tại đã hàm chứa cái quả vị lai và chính trong quả hiện tại đã hàm chứa
hình bóng của nhân quá khứ. Nếu xét trong hoàn cảnh, phạm vi này thì chúng là
nhân nhưng nếu xét trong hoàn cảnh phạm vi khác thì chính chúng lại là quả.
Nhân hay quả chỉ là tương đối mà thôi. Nên khi xác định là nhân hay quả thì
phải đặt chúng vào một tình huống nhất định. Chẳng hạn như xét về hạt lúa và
cây lúa. Nếu tính từ giai đoạn cây lúa sinh trưởng đến khi lúa chín thì cây lúa
là nhân còn hạt lúa là quả. Còn tính từ giai đoạn hạt lúa đem gieo cho đến khi
cây lúa trưởng thành thì hạt lúa là nhân còn cây lúa lại quả.
Tuy nhiên,
một nhân không thể đưa đến quả, hay một quả không thể chỉ có một nhân. Để có
thể tạo nên quả thì cần phải có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân
chính gọi là nhân và nguyên nhân phụ thì gọi là duyên. Cho nên, luật nhân quả
nói cho đủ là nhân – duyên – quả. Nói rằng, hạt lúa sinh ra cây lúa, đây là
cách nói đơn thuần. Hạt lúa chỉ là nguyên nhân chính để sinh ra cây lúa. Nếu
hạt lúa ấy không được ủ, không được đem gieo trên đất ẩm, không có nước,… thì
hạt lúa ấy không thể phát triển thành cây lúa mà có thể là trở thành hạt gạo.
các yếu tố đất, nước, không khí, ánh nắng, sự chăm sóc của con người,… là các
nguyên nhân phụ hay là các duyên để hạt lúa phát triển thành cây lúa.
Nhân và quả
thường cùng một đẳng loại, không có sự lẫn lộn đẳng loại. Hay nói cách khác là
nhân nào thì sinh quả nấy. con gà thì chỉ đẻ ra trứng gà chứ không thể cho ra
quả mít hay quả khế,.. Nhân với quả bao giờ cũng cùng một loại với nhau, nhân
thay đổi thì quả cũng thay đổi.
Từ nhân đến
quả có các yếu tố duyên xen vào, nên quả tuy cùng loại với nhân nhưng vẫn khác
với nhân. Tùy thuộc sự can thiệp mạnh hay yếu của các duyên ở trung gian, thuận
chiều hay nghịch chiều với nhân mà quả có thể hình thành sớm hay muộn, hoặc là
không thể hình thành. Khi quả đã hình thành, thì việc đón nhận nó là tùy thuộc
vào điều kiện tâm lý của người đón nhận. với người không chấp thủ thì quả dị
thục mất hết ảnh hưởng tác động, nó có cũng như không. Chẳng hạn, cùng bị ngồi
tù nhưng đối với anh A thì đấy là sự tù túng, đau khổ thực sự, còn anh B thì
xem đấy là thuận duyên, là điều kiện tốt để anh có cơ hội tụ tập thiền quán,…
nên anh B không hề bị khổ đau.
Có sự pha
lẫn giữa các thiện nhân, ác nhân và thiện quả, ác quả. Đời sống con người không
phải chỉ thuần khổ, thuần vui hay thuần không khổ không vui. Các hành động của
con người cũng vậy, không đơn thuần là thiện, là ác hay là không thiện không ác
nên trong quả báo có sự xen lẫn các nghiệp đã tạo tác. Có người giàu sanh nhưng
lại thiếu nhan sắc, có người thì có nhan sắc nhưng lại kém trí tuệ, người có
tài trí lại gặp gian truân, người kém thông minh thì lại bình an, … tất cả
những gì đang xảy đến với con người trong hiện tại không phải hoàn toàn do
nghiệp nhân trong hiện tại gọi là nghiệp mới. Đức Thế Tôn đã dạy “Mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân và ý trong hiện tại là kết quả của nghiệp cũ. Các hành động của
thân, miệng, ý trong hiện tại là nghiệp mới”. vậy là, tất cả các nghiệp quả cũ
nằm gọn trong sáu căn, sáu trần và sáu thức. Do sự tiếp xúc của căn, trần, thức
mà có cảm thọ. Con người có thể lựa chọn các xúc mình muốn, tức là con người có
khả năng để làm chủ tư duy, làm chủ tâm lý của mình để có thể ngăn ngừa ái,
thủ. Đây là mấu chốt để con người có thể đi vào hạnh phúc và giải thoát qua
giáo lý nhân quả của Phật giáo.
Phân loại nhân quả:
Thời gian từ
nhân đến quả khác nhau ở các loại nhân khác nhau và ở các chủ thể tạo nghiệp
khác nhau. Tùy theo quan điểm mà có cách phân loại khác nhau. ở đây trình bày
về hai cách phân loại:
Phân loại
thứ nhất:
Có loại nhân
mà thời gian từ nhân đến quả rất nhanh, gọi là nhân quả đồng thời. Như ăn thì
liền no, sân vừa khởi thì liền có phiền não,…
Có loại từ
nhân cho đến quả có một khoảng thời gian. Nếu nhân tạo ra trong đời này đưa đến
quả báo ngay đời này đến đời sau mới nhận quả thì gọi là sinh báo. Còn nhân tạo
ra trong đời này nhưng đến nhiều đời sau mới thọ quả thì gọi là hậu báo.
Nhân quả ba
đời này thường được xếp vào loại nhân quả xác định (gọi là định nghiệp). cũng
có một số trường hợp ảnh hưởng trung gian của các duyên rất mạnh nên đưa đến
các quả báo sai khác, khó xác định thời gian và chủng loại, trường hợp này gọi là bất tịnh nghiệp.
Tuy nhiên,
cách phân loại trên đây vẫn chưa đủ khả năng để giải thích mọi trường hợp nhân
quả. Có trường hợp do yếu tố tâm lý và tuệ giác can thiệp mạnh vào quá trình
biểu hiện của nghiệp quả nên khiến nghiệp quả có thể không đến, hoặc đến với
đẳng loại khác hẳng với nghiệp nhân đã tạo.
Trong đời
sống thực tế, chúng ta cũng thường nghe người bình dân phát biểu “Nhà giàu đứt
tay bằng ăn mày đỗ ruột”. cái đứt tay nhè nhẹ của người giàu sang họ nghe đau
như sự đỗ ruột của người ăn xin, đối với người ăn xin thì đứt tay được xem như
chẳng có nghĩa lý gì.
Cách phân
loại thứ hai:
Hình thức
phân loại thứ hai này nói lên sự biểu hiện của nghiệp quả ở hai lĩnh vực : thế
giới vật lý và cảnh giới tâm lý. Nhân quả biểu hiện ở mặt vật lý gọi là nhân
quả nội tâm. Có người sinh ra với thân hình xấu xí nhưng lại có trí tuệ và có
thiện tâm, và ngược lại, có người sinh ra với hình tướng tốt đẹp nhưng lại có
giả tâm, kém trí tuệ. Hoặc cũng có người tốt đẹp từ trong ra ngoài và cũng có
người không tốt đẹp từ trong ra ngoài.
Hay như
trường hợp một người tu hành chân chánh mà bị vu oan rồi phải ngồi tụ. Xác thân
vị ấy bị cầm tù còn tâm thì không. Nhờ công phu tu tập, vị ấy có khả năng làm
chủ tâm lý mình và không cảm thấy tù túng, khổ đau.
Nhìn lại một
số phát biểu về luật nhân quả:
Có tài liệu,
khi nói về luật nhân quả đã chép rằng “Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả
thị. Dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị” (Muốn biết nhân đời trước thì
hãy nhìn vào kết quả thọ báo ở hiện tại. Muốn biết kết quả thọ báo ở đời sau
thì hãy nhìn vào những tạo tác ở hiện tại). Nhận định này không diễn tả hoàn
toàn ý nghĩa của luật nhân quả, nó chỉ đúng trong một phạm vi tương đối mà
thôi. Bởi vì nghiệp nhân chưa hẳn đã đưa đến quả dị thục. Hơn nữa, những gì thọ
báo trong hiện tại không phải là hoàn toàn do nhân đã tạo trong kiếp quá khứ.
Đúng ra thì chỉ có thân ngũ uẩn là quả của nhân trong quá khứ còn các cảm thọ,
tri kiến là do nghiệp mới trong hiện tại mà sinh ra. Và tương tự đối với đời
sống tương lai cũng thế, Nhận định trên đã phủ định vai trò của nghiệp nhân
mới. Chính khi dạy về nhân quả, Đức Thế Tôn chú trọng nhiều chất cho việc tạo
ra nghiệp mới trong hiện tại, chú trọng vấn đề đoạn diệt nghiệp hơn là tạo tác
nghiệp lành. Đây là mục đích của đời sống phạm hạnh.
Trong tài
liệu văn học Việt Nam, có một số quan điểm cho rằng cụ Nguyễn Du trong “Đoạn
trường tân thanh” đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo, và có sự lẫn lận về
luật nhân quả với các thuyết thiên mệnh và tiền định.
Trong thời
gian Kiều Luân Lạc, cụ Nguyễn Du viết:
“Cho hay
muôn sự tại trời
Trời kia bắt
phải làm người có thân
Bắt phong
trần phải phong trần
Cho thanh
cao mới được phần thanh cao.”
Khi Kiều vừa
thoát kiếp đoạn trường thì cụ viết:
“Có trời mà
cũng có ta
Tu là cội
phúc, tình là dây oan”
Cho đến đây,
Kiều mới bình tỉnh để nhìn lại cuộc sống, nhận định về cuộc đời. Trời ấy là ý
nghĩa của nghiệp cũ và ta ấy là ý nghĩa của nghiệp mới. Chỉ hai câu thơ sau mới
liên hệ gồm với giáo lý nhân quả của Phật giáo.
Lại có quan
điểm cho rằng, ngoài nghiệp thiện và nghiệp ác còn có nghiệp vô ký và kết quả
của hành động vô ký. Đây là một quan điểm chưa đúng vì nghiệp là hành động tạo tác có tác ý hay nói cách khác
là hành động có sự tham gia, sự dẫn dắt của ý thức. Nhân quả luôn luôn liên hệ
đến nghiệp. Chính vì có nghiệp cảm mới có động cơ chính vẽ thành tiến trình của nhân quả.
Nội dung của
nghiệp báo:
Định nghĩa
về nghiệp báo: nghiệp báo nói cho đủ là nghiệp báo ứng, gọi là nghiêp báo ứng
vì nghiệp nhân mình đã tạo thì tất yếu có thọ nhân quả báo tương ứng. Nếu mình
gieo nhiều nghiệp nhân khác nhau thì theo qui luật này, nó sẽ sự bù trừ lẫn
nhau để rồi kết thành những quả báo phù hợp chứ không phải nó vận hành một cách
cứng nhắc hay thiên vị. Để hiểu rõ hơn về nghiệp báo, chúng ta nên tìm hiểu
nghĩa của từ nghiệp và báo.
Nghiệp là gì
? Nghiệp là hành động tạo tác có tác ý. Tức là một hành vi nào đó có sự tham
gia của ý thức thì tạo nên nghiệp. Hành vi mà không có sự tham gia của ý thức
thì gọi là duy tác hay chỉ gọi là hành động mà thôi. Khi đã tạo tác thì nghiệp
ấy trở thành sức mạnh chi phối trở lại chủ thể tạo tác đó. Ý thức có vai trò quyết
định tính chất của nghiệp, như trong Kinh Pháp Cú, phẩm song yếu đức Phật dạy:
“Ý dẫn đầu
có các pháp
Ý làm chủ,
tạo tác
Nếu nói năng
và hành động với tâm nhiễm ô
Thì sự khổ
não sẽ theo ta
Như chiếc xe
lăn theo chân con vật kéo” (1)
“Ý dẫn đầu
các pháp
Ý làm chủ,
tạo tác
Nếu nói năng
và hành động với tâm thanh tịnh
Thì sự an
lạc sẽ theo ta
Như bóng
không rời hình” (2)
Chúng ta là
chủ nhân của nghiệp và chính chúng ta phải lãnh phần trách nhiệm về những
nghiệp nhân của chúng ta đã tạo ra và gặt hái nghiệp quả an vui hay đau khổ
trong hiện tại. Chính ta tạo thiên đường cho ta, và cũng chính ta tạo địa ngục
cho ta. Ta là người nắm quyền quyết định, xây dựng tương lai của ta. Chính ta
tạo ra cái mà thế gian gọi là Định mệnh. Về điều này, trong Tăng Chi II đức
Phật “ Ta là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai
tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào đã làm, thiện
hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”
Báo là gì?
Báo hay báo ứng là kết quả mà chủ nhân phải thọ nhận về một nghiệp nào đó mà
mình đã làm. Kết chủ nhân thọ nhân luôn cân xứng với cái nhân đã gieo. Tuy
nhiên, thời gian để từ nghiệp nhân kết thành nghiệp quả có sự sai khác. Đây là
nguyên nhân dẫn đến tình trạng trong hiện tại có người sống hiền lương nhưng
lại nghèo khổ, thiếu thốn, có người sống bất lương thì lại được hưởng vinh hoa, phú quí,… Bởi vì quả báo có 3
loại: Hiện báo, sinh báo, và hậu báo (đã giải thích ở phần nhân quả).
Phân loại nghiệp báo:
Nghiệp báo
có nhiều loại khác nhau:
Định nghiệp:
các nghiệp nhất định sẽ đưa đến quả báo.
Bất định
nghiệp: nghiệp không dẫn đến kết quả hoặc kết quả xuất hiện vào một thời điểm
nào đó không xác định.
Biệt định:
Nghiệm cảm thọ riên của từng cá nhân.
Cộng nghiệp:
Nghiệp cảm thọ chung của một tập thể.
Thiện
nghiệp: Những nghiệp lành do thân, miệng, ý tạo nên.
Ác nghiệp:
Những nghiệp ác do thân, miệng, ý tạo nên.
Hữu lậu
nghiệp: Là những nghiệp dẫn đến kết quả ở đời sau.
Vô lậu
nghiệp: Nghiệp không có sanh y, không còn dẫn dắt chủ nhân đi trong luân hồi
sanh tử.
Cực trọng
nghiệp: Là những nghiệp nhân do phạm tội ngũ nghịch mà ra, còn gọi là vô gián
nghiệp.
Cận tử
nghiệp: Là nghiệp tạo ra hay nghĩ nhớ lúc sắp lâm chung.
Tập quán
nghiệp: Là những hành động trở thành tập quán tác thành cá tính con người.
Từ đâu tạo
thành nghiệp và từ đâu có báo ứng:
Nghiệp do
chính thân, miệng, ý của chúng ta tạo nên. Rồi nghiệp ấy trở thành sức mạnh tác
động trở lại đời sống của chủ nhân. Nếu thân làm việc lành, miệng nói lời lành,
ý nghĩa điều lành thì tạo nên nghiệp lành. Ngược lại, thân làm việc ác, miệng
mới lời ác, ý nghĩa điều ác thì tạo nên nghiệp dữ. vậy là, con người là chủ
nhân của nghiệp và cũng chính người đó là chủ nhân thọ nhân quả báo từ nghiệp
nhân đã tạo. Con người hoàn toàn tự chủ, tự lực quyết định số phận của bản thân
chứ không do người nào khác. Đây là ý nghĩa về tính nhận bản của đạo Phật.
Và sự báo
ứng không phải từ trên trời rơi xuống mà nó xuất phát từ nơi tự thân của mỗi
người, từ trong tàng thức hay A Lại Da Thức của mỗi người mà sinh khởi. Mỗi khi
chúng ta làm điều thiện hay điều ác thì những chủng tử thiện, ác đó được lưu
giữ lại trong tàng thức. Loại chủng tử nào được huân tập sâu dầy thì nó phát
tác dễ hơn những chủng tử khác. Khi loại
chủng tử nào đã đến thời điểm (nhân duyên chín muội) hình thành quả báo thì nó
có sức mạnh dẫn dắt ý chí của chủ nhân, khiến chủ nhân phải hành động để nhận
quả báo. Ví dụ: Một thiện nghiệp là bố thí, cúng dường, khi thời điểm hình
thành quả báo đã đến thì nó khiến cho tâm trí của chủ nhân trở nên sáng suốt,
làm gì được nấy, dự định kế hoạch gì cũng chính xác từ đó làm ăn phát đạt và
trở nên giàu có.
Bởi vì
nghiệp nhân được trở thành chủng tử và lưu giữ vào trong tàng thức rồi trở lại
quyết định, chi phối ý thức của con người nên chúng ta có thể chuyển nghiệp
hoặc là làm cho hết nghiệp. Để có thể chuyển hóa nghiệp hay đoạn diệt nghiệp
thì phải thực tập Giới – Định – Tuệ. Với việc tu tập này chúng ta tạo thêm
những nghiệp mới, các nghiệp mới ấy, có ảnh hưởng lớn đến quả báo hiện hành của
nghiệp cũ. Yếu tố tâm lý của cá nhân có ý nghĩa quyết định đến cảm thọ sinh ra
do nghiệp quả đưa đến.
Chính tạng
thức là yếu tố kết quả nối của mỗi một cá nhân trong đời sống hiện tại từ lúc
sinh ra cho đến lúc chết đi và cũng là gạch nối từ đời này với đời khác. Tạng
thức ấy không bao giờ mất đi, nó luôn luôn tồn tại và quyết định tính chủ thể
của cá nhân trong sự hoạt động của nghiệp.
Khi con
người còn bị vô minh, tham ái thì tàng thức ấy vẫn là tàng thức. Khi chúng sanh
nhờ tu tập mà đạt đến sự giác ngộ, không còn tham ái, vô minh nữa thì tàng thức
được chuyển hóa thành Đại viên cảnh trí chứ không hề bị gián đoạn, bị đứt mất.
Loại nghiệp nào dẫn đi đầu thai:
Trong một
đời sống, chủ nhân thường tạo nhiều nghiệp thiện, ác lẫn lộn. Trong nhiều loại
nghiệp đó có một loại nghiệp có sức mạnh dẫn đi đầu thai ở đời khác, đó là cận
tử nghiệp. Thông thường, tập quán nghiệp nào mạnh nhất thì sẽ sống dậy mãnh
liệt nhất trước lúc chết, do đó có sức mạnh quyết định nơi đầu thai, và chính
cận tử nghiệp là nghiệp tạo ra trước lúc chết sẽ là yếu tố quyết định cảnh giới
thác thai. Tùy theo cận tử nghiệp mà chủ nhân đó có thể được thăng hoa hay bị
đọa lạc trong kiếp sống nay mai. Chính vì cận tử nghiệp quan trọng như thế, nên
những bậc chân tu, có sức nhiếp tâm an tịnh vững vàng thì lúc sắp chết họ giữ
tâm bình thản, không tham đắm, chấp trước vào bất cứ thứ gì nên họ được thác
sanh vào những cảnh giới thanh cao.
Tuy nhiên,
đề cao sức mạnh của cận tử nghiệp không có nghĩa là bác bỏ hết những ảnh hưởng
của các nghiệp nhân khác. Các nghiệp nhân khác tuy chưa đủ sức dẫn đi đầu thai,
nhưng khi gặp đủ nhân duyên thì quả báo vẫn kết tụ chứ không mất đi.
Luật nhân
quả, nghiệp báo có khác gì so với thuyết định mệnh, tiền định hay thuyết về
đấng tạo hóa?
Đạo Phật chủ
trương rằng, nguyên nhân chính tạo nên sự sai khác trong cuộc sống là do sự
khác biệt về nghiệp của chúng sanh. Tuy
nhiên, Phật giáo không quả quyết rằng tất cả đều do nơi nghiệp lực của quá khứ.
Nói cách khác, nghiệp không phải là nguyên nhân duy nhất tạo nên những sự khác
biệt, chênh lệch giữa chúng sanh. Để điều chỉnh lại quan niệm sai lầm rằng
“Những quả lành, dữ hay không lành, không dữ trong hiện tại đều phát sinh từ
những hành động nào trong hiện tại đều phát sinh từ những hành động nào trong
quá khứ”. Đức Phật đã dạy “Nếu luận như vậy và quả quyết rằng do những hành
động trong quá khứ mà con người trở thành sát nhân, trộm cướp, tà dâm, láo
xược, thô lỗ, nhảm nhí, tham lam, xảo quyệt, hư hèn thì họ sẽ có lý do để ỷ
lại. dựa trên quá khứ mà không muốn thực hiện, không cố gắng thực hiện và cũng
thấy không cần thiết phải thực hiện một hành động, dù hành động đó có đảng thực
hiện hay không”
Nếu như kiếp
sống hiện tại tuyệt đối do hành động quá khứ chi phối hay hoàn toàn do tiền
nghiệp chủ động thì luật nghiệp báo chẳng có gì khác hơn là thuyết định mệnh
hay tiền định, có khác chăng là khác tên gọi mà thôi. Bởi vì với quan niệm đó
thì con người không còn tự do để cải thiện đời sống bản thân, không còn có tự
do suy nghĩ và hành động nữa. vô hình chung chúng ta đồng ý với quan niệm rằng,
chúng ta được sinh ra do một đấng tạo hóa toàn quyền quyết định, số phận của ta
do đấng đó sắp đặt và định sẵn, dầu muốn dầu không ta cũng không thể nào thay
đổi được vì số phận đã an bài.
Theo Đạo
Phật, luật nghiệp báo, nhân quả chỉ là hai trong năm định luật tham gia vào
lịch trình vận động của vạn hữu, năm định luật đó là:
Định luật
liên quan đến sự tiến triển của vật lý thuộc loại không cơ thể như hiện tượng
thời tiết, mưa gió,…
Định luật
liên quan đến sự tiến triển của vật lý thuộc loại hữu cơ, những vật có tế bào
như cỏ cây.
Định luật
nhơn quả hay là sự tiến triển từ hành động, thiện hay ác, đến quả lành hay dữ.
Định luật
của vạn pháp như những hiện tượng xảy ra trong khi một vị Bồ Tát lâm phàm trong
kiếp chót, luật hấp dẫn lực, và những định luật khác trong vũ trụ…
Định luật
tâm lý như lịch trình diễn tiến của Tâm, nhưng nhân tố tạo nên tâm lý, năng lực
của tâm.
Năm định
luật này chi phối sự tiến triển về vật chất và tinh thần.
Có người cho
rằng, thuyết nghiệp báo nhân quả trong Phật giáo là một loại nha phiến để thoa
dịu và ru ngủ người xấu số bằng luận điệu như sau “ Bây giờ anh phải chịu nghèo
khổ, vì đã tạo nghiệp xấu trong quá khứ. Anh kia được giàu sang vì anh ấy đã
tạo nghiệp tốt. Như vậy thì anh hãy can tâm chịu lấy số phận nghèo của anh và
cố gắng tạo nghiệp tốt để được giàu sang trong kiếp tới”
Đức Phật
không hề dạy như vậy. Thuyết Nghiệp báo trong Phật giáo không bao giờ chấp nhận
một cuộc phán xử sau kiếp sống, không hứa hẹn hạnh phúc hảo huyền trong tương
lai. Theo thuyết Nghiệp báo, chúng ta nhất định không bị trói buộc trong một
hoàn cảnh nào, chúng ta luôn có khả năng chuyển nghiệp hay đoạn diệt nghiệp
bằng chính hành động và tâm tư của chúng ta trong hiện tại.
Ý nghĩa của luật nhân quả, nghiệp báo:
Giáo lý nhân
quả, nghiệp báo thuộc Pháp hữu vi, thuộc phàm trù sinh diệt mà không phải thuộc
pháp vô vi, giải thoát. Giáo lý nhân quả nói đến tính tương quan, còn nói đến
nghiệp báo là nói đến thiện, ác. Nghiệp cũng có thể hiểu là nghiệp nhân, báo
cũng có hiểu là quả báo, nhưng nhân và quả trong nhân quả có phạm vi rộng hơn
nghiệp nhân và quả báo, nó bao hàm trong nó cả nghiệp nhân và quả báo.
Giáo lý nhân
quả, nghiệp báo dạy con người lánh xa các việc ác, làm các việc lành. Giáo lý
này tự thân ít nhấn mạnh vào việc giải thoát., nên mong ý nghĩa đạo đức, luân
lý của Phật giáo nhiều hơn. Với giáo lý nhân quả, nghiệp báo cũng đóng góp vào
công cuộc loại trừ các hiện tượng xấu, tiêu cực của xã hội.
Nhân quả,
nghiệp báo nghiêm chỉnh đặt ra vấn đề trách nhiệm cá nhân của con người, bởi
con người là chủ nhân của nghiệp, và cũng chính là kẻ thừa tự của nghiệp. Không
có trách nhiệm cá nhân thì nhân quả không được thành lập. Mà nếu không có trách
nhiệm cá nhân thì luật pháp thế gian cũng không được thành lập hoặc có được
thành lập thì cũng không có cơ sở để thi hành. Nếu không có luật pháp thì xã
hội loạn mất.
ở lãnh vực
giáo dục cũng thế, con người trưởng thành là một người có trách nhiệm cao đối
với tự thân và xã hội.
Giáo lý nhân
quả, nghiệp báo vừa chỉ rõ con đường đau khổ để con người tránh xa, vừa khích
lệ con người sống thiện và dạy con người có ý thức trách nhiệm, sống không ỷ
lại, không chạy trốn, không đỗ lỗi, không cầu xin.
Con người
chịu trách nhiệm về đời sống tâm thức của bản thân nên tự nguyện lánh xa những
điều xấu chứ không phải vì sợ một áp lực nào bên ngoài. Đây chính là cơ sở để
thành lập nền luân lý, đạo đức của Phật giáo. Cơ sở này vững chắc hơn cơ sở
hình phạt của pháp luật, bởi vì con người khôn ngoan có thể chạy trốn (hay qua
mặt) pháp luật và dư luận nhưng người ta không thể chạy trốn được lương tâm và
nghiệp của mình.
Nền đạo đức
của Phật giáo, luân lý của Phật giáo như thế không xây dựng trên các tín điều,
không xây dựng trên các tư duy thuần lý, cũng không “ra lệnh”, mà được xây dựng
trên giá trị tiêu chuẩn của an lạc, hạnh phúc và giải thoát của con người và
rất người. Đây là một nền đạo đức, luân lý đầy tính tích cực, đầy trí tuệ và
dựa trên tính nhân bản của con người.
Kết luận:
Với luật
nghiệp báo, nhân quả giúp cho chúng ta tránh những quan điểm mê tín, dị đoan,
những tin tưởng sai lầm vào thuyết thần quyền, định mệnh hay tiền định. Đồng
thời giáo lý này đem lại lòng tin tưởng vào chính mình, vào chính con người vì
chính chúng ta là người xây dựng, quyết định cuộc sống của bản thân. Không
những thế, giáo lý nhân quả, nghiệp báo làm cho chúng ta không chán nản, không
trách móc hay đỗ lỗi cho ai, và cũng không ỷ lại ở kẻ khác, nhờ vậy, chúng ta
luôn cố gắn tránh xa những điều ác, làm các điều lành để đời sống chúng ta an
vui và hạnh phúc hơn vì không ai trong chúng ta lại không muốn điều đó.
Tuy nhiên,
trong giáo lý nhân quả, nghiệp báo có sự sai khác về sự thọ nhận quả báo giữa
người này với người khác. Cùng một quả báo nhưng với người này thì đó là một sự
khổ đau nhưng với người khác thì không khổ đau gì cả. Chẳng hạn, cùng sống
trong cảnh nghèo, ăn cơm với dưa, muối qua ngày, nhưng với người biết tu thì họ
cảm thấy bình thường và họ ăn vẫn ngon, nhưng với người thiếu tu thì vừa nhìn
thấy dĩa dưa chua kho, dĩa muối tiêu là họ phát ngán lên tận cổ, nuốt không
xuống rồi sinh lòng cáu gắt. Thế là đã khổ lại càng khổ thêm. Qua đây, cho
chúng ta thấy cảm thọ về quả báo như thế nào là hoàn toàn phụ thuộc vào tự thân
mỗi người quyết định.

Comments
Post a Comment