Skip to main content

Nhân Quả, Nghiệp Báo

Dẫn nhập :
Mỗi một con người sống trên cõi đời này không có ai giống ai hoàn toàn cả về hình dáng bên ngoài lẫn nội tâm bên trong. Có người sung sướng, có kẻ khổ đau, có người giàu sang quyền quí, kẻ thì nghèo đói, thấp hèn, có người sống lâu có người mệnh yểu, có người thông minh và có người không thông minh,… Ngay anh chị em trong một gia đình, thậm chí những người sinh đôi cùng trứng cũng vẫn tồn tại những điểm sai khác nhau.


Tất cả sự khác nhau này, theo như Phật giáo thì chúng không phải là sự ngẫu nhiên, may rủi hay là do bàn tay có năng lực siêu hình nào đó nắm quyền quyết định.
Sở dĩ có sự khác nhau như vậy là vì tất cả các sự vật, hiện tượng trong hiện tượng giới này đều vận hành theo các qui luật khách quan, bình đẳng của nhân sinh, vũ trụ, qui luật có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sai biệt trên là luật nhân quả, nghiệp báo.
Nội dung:
Nội dung của luật nhân quả:
Những đặc tính của luật nhân quả:
Nhân chính là nguyên nhân và quả là kết quả. Trong hiện tướng giới này, mỗi hiện hữu đều có nguyên nhân của nó. Nguyên nhân của sự có mặt các hiện hữu gọi là nhân và sự có mặt của hiện hữu ấy có quả.
Nói đến nhân quả là nói đến sự tương quan, tương quan này là mối tương quan vòng tròn (hay xoắn ốc), có nghĩa là trong nhân có quả và trong quả có nhân. Chính trong nhân hiện tại đã hàm chứa cái quả vị lai và chính trong quả hiện tại đã hàm chứa hình bóng của nhân quá khứ. Nếu xét trong hoàn cảnh, phạm vi này thì chúng là nhân nhưng nếu xét trong hoàn cảnh phạm vi khác thì chính chúng lại là quả. Nhân hay quả chỉ là tương đối mà thôi. Nên khi xác định là nhân hay quả thì phải đặt chúng vào một tình huống nhất định. Chẳng hạn như xét về hạt lúa và cây lúa. Nếu tính từ giai đoạn cây lúa sinh trưởng đến khi lúa chín thì cây lúa là nhân còn hạt lúa là quả. Còn tính từ giai đoạn hạt lúa đem gieo cho đến khi cây lúa trưởng thành thì hạt lúa là nhân còn cây lúa lại quả.
Tuy nhiên, một nhân không thể đưa đến quả, hay một quả không thể chỉ có một nhân. Để có thể tạo nên quả thì cần phải có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chính gọi là nhân và nguyên nhân phụ thì gọi là duyên. Cho nên, luật nhân quả nói cho đủ là nhân – duyên – quả. Nói rằng, hạt lúa sinh ra cây lúa, đây là cách nói đơn thuần. Hạt lúa chỉ là nguyên nhân chính để sinh ra cây lúa. Nếu hạt lúa ấy không được ủ, không được đem gieo trên đất ẩm, không có nước,… thì hạt lúa ấy không thể phát triển thành cây lúa mà có thể là trở thành hạt gạo. các yếu tố đất, nước, không khí, ánh nắng, sự chăm sóc của con người,… là các nguyên nhân phụ hay là các duyên để hạt lúa phát triển thành cây lúa.
Nhân và quả thường cùng một đẳng loại, không có sự lẫn lộn đẳng loại. Hay nói cách khác là nhân nào thì sinh quả nấy. con gà thì chỉ đẻ ra trứng gà chứ không thể cho ra quả mít hay quả khế,.. Nhân với quả bao giờ cũng cùng một loại với nhau, nhân thay đổi thì quả cũng thay đổi.
Từ nhân đến quả có các yếu tố duyên xen vào, nên quả tuy cùng loại với nhân nhưng vẫn khác với nhân. Tùy thuộc sự can thiệp mạnh hay yếu của các duyên ở trung gian, thuận chiều hay nghịch chiều với nhân mà quả có thể hình thành sớm hay muộn, hoặc là không thể hình thành. Khi quả đã hình thành, thì việc đón nhận nó là tùy thuộc vào điều kiện tâm lý của người đón nhận. với người không chấp thủ thì quả dị thục mất hết ảnh hưởng tác động, nó có cũng như không. Chẳng hạn, cùng bị ngồi tù nhưng đối với anh A thì đấy là sự tù túng, đau khổ thực sự, còn anh B thì xem đấy là thuận duyên, là điều kiện tốt để anh có cơ hội tụ tập thiền quán,… nên anh B không hề bị khổ đau.
Có sự pha lẫn giữa các thiện nhân, ác nhân và thiện quả, ác quả. Đời sống con người không phải chỉ thuần khổ, thuần vui hay thuần không khổ không vui. Các hành động của con người cũng vậy, không đơn thuần là thiện, là ác hay là không thiện không ác nên trong quả báo có sự xen lẫn các nghiệp đã tạo tác. Có người giàu sanh nhưng lại thiếu nhan sắc, có người thì có nhan sắc nhưng lại kém trí tuệ, người có tài trí lại gặp gian truân, người kém thông minh thì lại bình an, … tất cả những gì đang xảy đến với con người trong hiện tại không phải hoàn toàn do nghiệp nhân trong hiện tại gọi là nghiệp mới. Đức Thế Tôn đã dạy “Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý trong hiện tại là kết quả của nghiệp cũ. Các hành động của thân, miệng, ý trong hiện tại là nghiệp mới”. vậy là, tất cả các nghiệp quả cũ nằm gọn trong sáu căn, sáu trần và sáu thức. Do sự tiếp xúc của căn, trần, thức mà có cảm thọ. Con người có thể lựa chọn các xúc mình muốn, tức là con người có khả năng để làm chủ tư duy, làm chủ tâm lý của mình để có thể ngăn ngừa ái, thủ. Đây là mấu chốt để con người có thể đi vào hạnh phúc và giải thoát qua giáo lý nhân quả của Phật giáo.
Phân loại nhân quả:
Thời gian từ nhân đến quả khác nhau ở các loại nhân khác nhau và ở các chủ thể tạo nghiệp khác nhau. Tùy theo quan điểm mà có cách phân loại khác nhau. ở đây trình bày về hai cách phân loại:
Phân loại thứ nhất:
Có loại nhân mà thời gian từ nhân đến quả rất nhanh, gọi là nhân quả đồng thời. Như ăn thì liền no, sân vừa khởi thì liền có phiền não,…
Có loại từ nhân cho đến quả có một khoảng thời gian. Nếu nhân tạo ra trong đời này đưa đến quả báo ngay đời này đến đời sau mới nhận quả thì gọi là sinh báo. Còn nhân tạo ra trong đời này nhưng đến nhiều đời sau mới thọ quả thì gọi là hậu báo.
Nhân quả ba đời này thường được xếp vào loại nhân quả xác định (gọi là định nghiệp). cũng có một số trường hợp ảnh hưởng trung gian của các duyên rất mạnh nên đưa đến các quả báo sai khác, khó xác định thời gian và chủng loại, trường  hợp này gọi là bất tịnh nghiệp.
Tuy nhiên, cách phân loại trên đây vẫn chưa đủ khả năng để giải thích mọi trường hợp nhân quả. Có trường hợp do yếu tố tâm lý và tuệ giác can thiệp mạnh vào quá trình biểu hiện của nghiệp quả nên khiến nghiệp quả có thể không đến, hoặc đến với đẳng loại khác hẳng với nghiệp nhân đã tạo.
Trong đời sống thực tế, chúng ta cũng thường nghe người bình dân phát biểu “Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đỗ ruột”. cái đứt tay nhè nhẹ của người giàu sang họ nghe đau như sự đỗ ruột của người ăn xin, đối với người ăn xin thì đứt tay được xem như chẳng có nghĩa lý gì.
Cách phân loại thứ hai:
Hình thức phân loại thứ hai này nói lên sự biểu hiện của nghiệp quả ở hai lĩnh vực : thế giới vật lý và cảnh giới tâm lý. Nhân quả biểu hiện ở mặt vật lý gọi là nhân quả nội tâm. Có người sinh ra với thân hình xấu xí nhưng lại có trí tuệ và có thiện tâm, và ngược lại, có người sinh ra với hình tướng tốt đẹp nhưng lại có giả tâm, kém trí tuệ. Hoặc cũng có người tốt đẹp từ trong ra ngoài và cũng có người không tốt đẹp từ trong ra ngoài.
Hay như trường hợp một người tu hành chân chánh mà bị vu oan rồi phải ngồi tụ. Xác thân vị ấy bị cầm tù còn tâm thì không. Nhờ công phu tu tập, vị ấy có khả năng làm chủ tâm lý mình và không cảm thấy tù túng, khổ đau.
Nhìn lại một số phát biểu về luật nhân quả:
Có tài liệu, khi nói về luật nhân quả đã chép rằng “Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị. Dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị” (Muốn biết nhân đời trước thì hãy nhìn vào kết quả thọ báo ở hiện tại. Muốn biết kết quả thọ báo ở đời sau thì hãy nhìn vào những tạo tác ở hiện tại). Nhận định này không diễn tả hoàn toàn ý nghĩa của luật nhân quả, nó chỉ đúng trong một phạm vi tương đối mà thôi. Bởi vì nghiệp nhân chưa hẳn đã đưa đến quả dị thục. Hơn nữa, những gì thọ báo trong hiện tại không phải là hoàn toàn do nhân đã tạo trong kiếp quá khứ. Đúng ra thì chỉ có thân ngũ uẩn là quả của nhân trong quá khứ còn các cảm thọ, tri kiến là do nghiệp mới trong hiện tại mà sinh ra. Và tương tự đối với đời sống tương lai cũng thế, Nhận định trên đã phủ định vai trò của nghiệp nhân mới. Chính khi dạy về nhân quả, Đức Thế Tôn chú trọng nhiều chất cho việc tạo ra nghiệp mới trong hiện tại, chú trọng vấn đề đoạn diệt nghiệp hơn là tạo tác nghiệp lành. Đây là mục đích của đời sống phạm hạnh.
Trong tài liệu văn học Việt Nam, có một số quan điểm cho rằng cụ Nguyễn Du trong “Đoạn trường tân thanh” đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo, và có sự lẫn lận về luật nhân quả với các thuyết thiên mệnh và tiền định.
Trong thời gian Kiều Luân Lạc, cụ Nguyễn Du viết:
“Cho hay muôn sự tại trời
Trời kia bắt phải làm người có thân
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.”
Khi Kiều vừa thoát kiếp đoạn trường thì cụ viết:
“Có trời mà cũng có ta
Tu là cội phúc, tình là dây oan”
Cho đến đây, Kiều mới bình tỉnh để nhìn lại cuộc sống, nhận định về cuộc đời. Trời ấy là ý nghĩa của nghiệp cũ và ta ấy là ý nghĩa của nghiệp mới. Chỉ hai câu thơ sau mới liên hệ gồm với giáo lý nhân quả của Phật giáo.
Lại có quan điểm cho rằng, ngoài nghiệp thiện và nghiệp ác còn có nghiệp vô ký và kết quả của hành động vô ký. Đây là một quan điểm chưa đúng vì nghiệp là  hành động tạo tác có tác ý hay nói cách khác là hành động có sự tham gia, sự dẫn dắt của ý thức. Nhân quả luôn luôn liên hệ đến nghiệp. Chính vì có nghiệp cảm mới có động cơ chính vẽ thành tiến trình của nhân quả.
Nội dung của nghiệp báo:
Định nghĩa về nghiệp báo: nghiệp báo nói cho đủ là nghiệp báo ứng, gọi là nghiêp báo ứng vì nghiệp nhân mình đã tạo thì tất yếu có thọ nhân quả báo tương ứng. Nếu mình gieo nhiều nghiệp nhân khác nhau thì theo qui luật này, nó sẽ sự bù trừ lẫn nhau để rồi kết thành những quả báo phù hợp chứ không phải nó vận hành một cách cứng nhắc hay thiên vị. Để hiểu rõ hơn về nghiệp báo, chúng ta nên tìm hiểu nghĩa của từ nghiệp và báo.
Nghiệp là gì ? Nghiệp là hành động tạo tác có tác ý. Tức là một hành vi nào đó có sự tham gia của ý thức thì tạo nên nghiệp. Hành vi mà không có sự tham gia của ý thức thì gọi là duy tác hay chỉ gọi là hành động mà thôi. Khi đã tạo tác thì nghiệp ấy trở thành sức mạnh chi phối trở lại chủ thể tạo tác đó. Ý thức có vai trò quyết định tính chất của nghiệp, như trong Kinh Pháp Cú, phẩm song yếu đức Phật dạy:
“Ý dẫn đầu có các pháp
Ý làm chủ, tạo tác
Nếu nói năng và hành động với tâm nhiễm ô
Thì sự khổ não sẽ theo ta
Như chiếc xe lăn theo chân con vật kéo” (1)
“Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ, tạo tác
Nếu nói năng và hành động với tâm thanh tịnh
Thì sự an lạc sẽ theo ta
Như bóng không rời hình” (2)
Chúng ta là chủ nhân của nghiệp và chính chúng ta phải lãnh phần trách nhiệm về những nghiệp nhân của chúng ta đã tạo ra và gặt hái nghiệp quả an vui hay đau khổ trong hiện tại. Chính ta tạo thiên đường cho ta, và cũng chính ta tạo địa ngục cho ta. Ta là người nắm quyền quyết định, xây dựng tương lai của ta. Chính ta tạo ra cái mà thế gian gọi là Định mệnh. Về điều này, trong Tăng Chi II đức Phật “ Ta là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào đã làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”
Báo là gì? Báo hay báo ứng là kết quả mà chủ nhân phải thọ nhận về một nghiệp nào đó mà mình đã làm. Kết chủ nhân thọ nhân luôn cân xứng với cái nhân đã gieo. Tuy nhiên, thời gian để từ nghiệp nhân kết thành nghiệp quả có sự sai khác. Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trong hiện tại có người sống hiền lương nhưng lại nghèo khổ, thiếu thốn, có người sống bất lương thì lại được  hưởng vinh hoa, phú quí,… Bởi vì quả báo có 3 loại: Hiện báo, sinh báo, và hậu báo (đã giải thích ở phần nhân quả).
Phân loại nghiệp báo:
Nghiệp báo có nhiều loại khác nhau:
Định nghiệp: các nghiệp nhất định sẽ đưa đến quả báo.
Bất định nghiệp: nghiệp không dẫn đến kết quả hoặc kết quả xuất hiện vào một thời điểm nào đó không xác định.
Biệt định: Nghiệm cảm thọ riên của từng cá nhân.
Cộng nghiệp: Nghiệp cảm thọ chung của một tập thể.
Thiện nghiệp: Những nghiệp lành do thân, miệng, ý tạo nên.
Ác nghiệp: Những nghiệp ác do thân, miệng, ý tạo nên.
Hữu lậu nghiệp: Là những nghiệp dẫn đến kết quả ở đời sau.
Vô lậu nghiệp: Nghiệp không có sanh y, không còn dẫn dắt chủ nhân đi trong luân hồi sanh tử.
Cực trọng nghiệp: Là những nghiệp nhân do phạm tội ngũ nghịch mà ra, còn gọi là vô gián nghiệp.
Cận tử nghiệp: Là nghiệp tạo ra hay nghĩ nhớ lúc sắp lâm chung.
Tập quán nghiệp: Là những hành động trở thành tập quán tác thành cá tính con người.
Từ đâu tạo thành nghiệp và từ đâu có báo ứng:
Nghiệp do chính thân, miệng, ý của chúng ta tạo nên. Rồi nghiệp ấy trở thành sức mạnh tác động trở lại đời sống của chủ nhân. Nếu thân làm việc lành, miệng nói lời lành, ý nghĩa điều lành thì tạo nên nghiệp lành. Ngược lại, thân làm việc ác, miệng mới lời ác, ý nghĩa điều ác thì tạo nên nghiệp dữ. vậy là, con người là chủ nhân của nghiệp và cũng chính người đó là chủ nhân thọ nhân quả báo từ nghiệp nhân đã tạo. Con người hoàn toàn tự chủ, tự lực quyết định số phận của bản thân chứ không do người nào khác. Đây là ý nghĩa về tính nhận bản của đạo Phật.
Và sự báo ứng không phải từ trên trời rơi xuống mà nó xuất phát từ nơi tự thân của mỗi người, từ trong tàng thức hay A Lại Da Thức của mỗi người mà sinh khởi. Mỗi khi chúng ta làm điều thiện hay điều ác thì những chủng tử thiện, ác đó được lưu giữ lại trong tàng thức. Loại chủng tử nào được huân tập sâu dầy thì nó phát tác dễ hơn những chủng tử khác.  Khi loại chủng tử nào đã đến thời điểm (nhân duyên chín muội) hình thành quả báo thì nó có sức mạnh dẫn dắt ý chí của chủ nhân, khiến chủ nhân phải hành động để nhận quả báo. Ví dụ: Một thiện nghiệp là bố thí, cúng dường, khi thời điểm hình thành quả báo đã đến thì nó khiến cho tâm trí của chủ nhân trở nên sáng suốt, làm gì được nấy, dự định kế hoạch gì cũng chính xác từ đó làm ăn phát đạt và trở nên giàu có.
Bởi vì nghiệp nhân được trở thành chủng tử và lưu giữ vào trong tàng thức rồi trở lại quyết định, chi phối ý thức của con người nên chúng ta có thể chuyển nghiệp hoặc là làm cho hết nghiệp. Để có thể chuyển hóa nghiệp hay đoạn diệt nghiệp thì phải thực tập Giới – Định – Tuệ. Với việc tu tập này chúng ta tạo thêm những nghiệp mới, các nghiệp mới ấy, có ảnh hưởng lớn đến quả báo hiện hành của nghiệp cũ. Yếu tố tâm lý của cá nhân có ý nghĩa quyết định đến cảm thọ sinh ra do nghiệp quả đưa đến.
Chính tạng thức là yếu tố kết quả nối của mỗi một cá nhân trong đời sống hiện tại từ lúc sinh ra cho đến lúc chết đi và cũng là gạch nối từ đời này với đời khác. Tạng thức ấy không bao giờ mất đi, nó luôn luôn tồn tại và quyết định tính chủ thể của cá nhân trong sự hoạt động của nghiệp.
Khi con người còn bị vô minh, tham ái thì tàng thức ấy vẫn là tàng thức. Khi chúng sanh nhờ tu tập mà đạt đến sự giác ngộ, không còn tham ái, vô minh nữa thì tàng thức được chuyển hóa thành Đại viên cảnh trí chứ không hề bị gián đoạn, bị đứt mất.
Loại nghiệp nào dẫn đi đầu thai:
Trong một đời sống, chủ nhân thường tạo nhiều nghiệp thiện, ác lẫn lộn. Trong nhiều loại nghiệp đó có một loại nghiệp có sức mạnh dẫn đi đầu thai ở đời khác, đó là cận tử nghiệp. Thông thường, tập quán nghiệp nào mạnh nhất thì sẽ sống dậy mãnh liệt nhất trước lúc chết, do đó có sức mạnh quyết định nơi đầu thai, và chính cận tử nghiệp là nghiệp tạo ra trước lúc chết sẽ là yếu tố quyết định cảnh giới thác thai. Tùy theo cận tử nghiệp mà chủ nhân đó có thể được thăng hoa hay bị đọa lạc trong kiếp sống nay mai. Chính vì cận tử nghiệp quan trọng như thế, nên những bậc chân tu, có sức nhiếp tâm an tịnh vững vàng thì lúc sắp chết họ giữ tâm bình thản, không tham đắm, chấp trước vào bất cứ thứ gì nên họ được thác sanh vào những cảnh giới thanh cao.
Tuy nhiên, đề cao sức mạnh của cận tử nghiệp không có nghĩa là bác bỏ hết những ảnh hưởng của các nghiệp nhân khác. Các nghiệp nhân khác tuy chưa đủ sức dẫn đi đầu thai, nhưng khi gặp đủ nhân duyên thì quả báo vẫn kết tụ chứ không mất đi.
Luật nhân quả, nghiệp báo có khác gì so với thuyết định mệnh, tiền định hay thuyết về đấng tạo  hóa?
Đạo Phật chủ trương rằng, nguyên nhân chính tạo nên sự sai khác trong cuộc sống là do sự khác biệt về  nghiệp của chúng sanh. Tuy nhiên, Phật giáo không quả quyết rằng tất cả đều do nơi nghiệp lực của quá khứ. Nói cách khác, nghiệp không phải là nguyên nhân duy nhất tạo nên những sự khác biệt, chênh lệch giữa chúng sanh. Để điều chỉnh lại quan niệm sai lầm rằng “Những quả lành, dữ hay không lành, không dữ trong hiện tại đều phát sinh từ những hành động nào trong hiện tại đều phát sinh từ những hành động nào trong quá khứ”. Đức Phật đã dạy “Nếu luận như vậy và quả quyết rằng do những hành động trong quá khứ mà con người trở thành sát nhân, trộm cướp, tà dâm, láo xược, thô lỗ, nhảm nhí, tham lam, xảo quyệt, hư hèn thì họ sẽ có lý do để ỷ lại. dựa trên quá khứ mà không muốn thực hiện, không cố gắng thực hiện và cũng thấy không cần thiết phải thực hiện một hành động, dù hành động đó có đảng thực hiện hay không”
Nếu như kiếp sống hiện tại tuyệt đối do hành động quá khứ chi phối hay hoàn toàn do tiền nghiệp chủ động thì luật nghiệp báo chẳng có gì khác hơn là thuyết định mệnh hay tiền định, có khác chăng là khác tên gọi mà thôi. Bởi vì với quan niệm đó thì con người không còn tự do để cải thiện đời sống bản thân, không còn có tự do suy nghĩ và hành động nữa. vô hình chung chúng ta đồng ý với quan niệm rằng, chúng ta được sinh ra do một đấng tạo hóa toàn quyền quyết định, số phận của ta do đấng đó sắp đặt và định sẵn, dầu muốn dầu không ta cũng không thể nào thay đổi được vì số phận đã an bài.
Theo Đạo Phật, luật nghiệp báo, nhân quả chỉ là hai trong năm định luật tham gia vào lịch trình vận động của vạn hữu, năm định luật đó là:
Định luật liên quan đến sự tiến triển của vật lý thuộc loại không cơ thể như hiện tượng thời tiết, mưa gió,…
Định luật liên quan đến sự tiến triển của vật lý thuộc loại hữu cơ, những vật có tế bào như cỏ cây.
Định luật nhơn quả hay là sự tiến triển từ hành động, thiện hay ác, đến quả lành hay dữ.
Định luật của vạn pháp như những hiện tượng xảy ra trong khi một vị Bồ Tát lâm phàm trong kiếp chót, luật hấp dẫn lực, và những định luật khác trong vũ trụ…
Định luật tâm lý như lịch trình diễn tiến của Tâm, nhưng nhân tố tạo nên tâm lý, năng lực của tâm.
Năm định luật này chi phối sự tiến triển về vật chất và tinh thần.
Có người cho rằng, thuyết nghiệp báo nhân quả trong Phật giáo là một loại nha phiến để thoa dịu và ru ngủ người xấu số bằng luận điệu như sau “ Bây giờ anh phải chịu nghèo khổ, vì đã tạo nghiệp xấu trong quá khứ. Anh kia được giàu sang vì anh ấy đã tạo nghiệp tốt. Như vậy thì anh hãy can tâm chịu lấy số phận nghèo của anh và cố gắng tạo nghiệp tốt để được giàu sang trong kiếp tới”
Đức Phật không hề dạy như vậy. Thuyết Nghiệp báo trong Phật giáo không bao giờ chấp nhận một cuộc phán xử sau kiếp sống, không hứa hẹn hạnh phúc hảo huyền trong tương lai. Theo thuyết Nghiệp báo, chúng ta nhất định không bị trói buộc trong một hoàn cảnh nào, chúng ta luôn có khả năng chuyển nghiệp hay đoạn diệt nghiệp bằng chính hành động và tâm tư của chúng ta trong hiện tại.
Ý nghĩa của luật nhân quả, nghiệp báo:
Giáo lý nhân quả, nghiệp báo thuộc Pháp hữu vi, thuộc phàm trù sinh diệt mà không phải thuộc pháp vô vi, giải thoát. Giáo lý nhân quả nói đến tính tương quan, còn nói đến nghiệp báo là nói đến thiện, ác. Nghiệp cũng có thể hiểu là nghiệp nhân, báo cũng có hiểu là quả báo, nhưng nhân và quả trong nhân quả có phạm vi rộng hơn nghiệp nhân và quả báo, nó bao hàm trong nó cả nghiệp nhân và quả báo.
Giáo lý nhân quả, nghiệp báo dạy con người lánh xa các việc ác, làm các việc lành. Giáo lý này tự thân ít nhấn mạnh vào việc giải thoát., nên mong ý nghĩa đạo đức, luân lý của Phật giáo nhiều hơn. Với giáo lý nhân quả, nghiệp báo cũng đóng góp vào công cuộc loại trừ các hiện tượng xấu, tiêu cực của xã hội.
Nhân quả, nghiệp báo nghiêm chỉnh đặt ra vấn đề trách nhiệm cá nhân của con người, bởi con người là chủ nhân của nghiệp, và cũng chính là kẻ thừa tự của nghiệp. Không có trách nhiệm cá nhân thì nhân quả không được thành lập. Mà nếu không có trách nhiệm cá nhân thì luật pháp thế gian cũng không được thành lập hoặc có được thành lập thì cũng không có cơ sở để thi hành. Nếu không có luật pháp thì xã hội loạn mất.
ở lãnh vực giáo dục cũng thế, con người trưởng thành là một người có trách nhiệm cao đối với tự thân và xã hội.
Giáo lý nhân quả, nghiệp báo vừa chỉ rõ con đường đau khổ để con người tránh xa, vừa khích lệ con người sống thiện và dạy con người có ý thức trách nhiệm, sống không ỷ lại, không chạy trốn, không đỗ lỗi, không cầu xin.
Con người chịu trách nhiệm về đời sống tâm thức của bản thân nên tự nguyện lánh xa những điều xấu chứ không phải vì sợ một áp lực nào bên ngoài. Đây chính là cơ sở để thành lập nền luân lý, đạo đức của Phật giáo. Cơ sở này vững chắc hơn cơ sở hình phạt của pháp luật, bởi vì con người khôn ngoan có thể chạy trốn (hay qua mặt) pháp luật và dư luận nhưng người ta không thể chạy trốn được lương tâm và nghiệp của mình.
Nền đạo đức của Phật giáo, luân lý của Phật giáo như thế không xây dựng trên các tín điều, không xây dựng trên các tư duy thuần lý, cũng không “ra lệnh”, mà được xây dựng trên giá trị tiêu chuẩn của an lạc, hạnh phúc và giải thoát của con người và rất người. Đây là một nền đạo đức, luân lý đầy tính tích cực, đầy trí tuệ và dựa trên tính nhân bản của con người.
Kết luận:
Với luật nghiệp báo, nhân quả giúp cho chúng ta tránh những quan điểm mê tín, dị đoan, những tin tưởng sai lầm vào thuyết thần quyền, định mệnh hay tiền định. Đồng thời giáo lý này đem lại lòng tin tưởng vào chính mình, vào chính con người vì chính chúng ta là người xây dựng, quyết định cuộc sống của bản thân. Không những thế, giáo lý nhân quả, nghiệp báo làm cho chúng ta không chán nản, không trách móc hay đỗ lỗi cho ai, và cũng không ỷ lại ở kẻ khác, nhờ vậy, chúng ta luôn cố gắn tránh xa những điều ác, làm các điều lành để đời sống chúng ta an vui và hạnh phúc hơn vì không ai trong chúng ta lại không muốn điều đó.

Tuy nhiên, trong giáo lý nhân quả, nghiệp báo có sự sai khác về sự thọ nhận quả báo giữa người này với người khác. Cùng một quả báo nhưng với người này thì đó là một sự khổ đau nhưng với người khác thì không khổ đau gì cả. Chẳng hạn, cùng sống trong cảnh nghèo, ăn cơm với dưa, muối qua ngày, nhưng với người biết tu thì họ cảm thấy bình thường và họ ăn vẫn ngon, nhưng với người thiếu tu thì vừa nhìn thấy dĩa dưa chua kho, dĩa muối tiêu là họ phát ngán lên tận cổ, nuốt không xuống rồi sinh lòng cáu gắt. Thế là đã khổ lại càng khổ thêm. Qua đây, cho chúng ta thấy cảm thọ về quả báo như thế nào là hoàn toàn phụ thuộc vào tự thân mỗi người quyết định.

Comments

Popular posts from this blog

Ebook Trọn Bộ Kinh Nikaya và A Hàm

Mình có sưu tập được trọn bộ sách ebook về kinh Nikaya và kinh A Hàm tiếng Việt, nay xin đưa lên đây để cho những ai muốn tìm hiểu kinh điển của đạo Phật có thể tải về để học hỏi, nghiên cứu. Tải bộ kinh Nikaya do HT. Minh Châu dịch về từ đây. Đường link này sẽ dẫn đến một folder chứa đầy đủ năm bộ kinh Nikaya. Tuy nhiên, bộ kinh Nikaya này được tạo ra dưới dạng file *.prc, để đọc được nó thì cần phải có phần mềm thích hợp. Đây là đường link để mọi người tải phần mềm đó về nè, phần mềm miễn phí 100%. Nhấn vào đây để tải phần mềm đọc file *.prc Còn bộ kinh A Hàm do TT. Thích Tuệ Sĩ dịch thì được tạo ra dưới dạng file pdf. Phần mềm để đọc dạng file này thì mọi người đều đã biết rồi. Nhấn vào đây để tải kinh A Hàm về Nếu mọi người thấy những đường link này hữu dụng thì đừng quên để lại vài lời "phê phán" để động viên tinh thần cho mình nhé.  Chúc an lành đến cho tất cả.

Sư giả đi khất thực tràn lan, làm sao đẩy lùi?

Trong những năm gần đây, nạn sư giả đi khất thực tràn lan trên nhiều tỉnh thành từ Bắc chí Nam, đặc biệt là vào những mùa lễ hội tại các ngôi chùa, ngôi đền có nhiều tín đồ đến viếng, hoặc tại những nơi đông dân cư, nhiều người qua lại. Giả sư ngồi trước cửa chùa Bà Đá xin tiền Vào những ngày đầu năm Giáp Ngọ, theo phản ánh của báo chí thì cũng có rất nhiều người giả dạng nhà sư để đi khất thực tại những ngôi chùa, ngôi đền lớn, tại các khu lễ hội, khu chợ, các thành phố lớn… Vì họ không phải là nhà sư thực thụ nên cả cách ăn mặc lẫn hành vi của họ đều không đúng quy cách của người tu hành nên đã gây ảnh hưởng xấu đến Phật giáo, làm mất niềm tin của tín đồ và người dân đối với đạo Phật, làm giảm uy tín của hàng tu sĩ Phật giáo, nhất là với những người thiếu hiểu biết. Có thể nói, việc giả dạng nhà sư đi khất thực đã trở thành một tệ nạn của xã hội. Nhiều đối tượng đã lấy việc giả dạng nhà sư đi khất thực để làm nghề mưu sinh của mình, họ lợi dụng lòng tốt của tín đồ, người dân đ...

Sri Lanka: Cộng đồng Phật giáo mừng lễ hội Poson

Mười hai triệu Phật tử ở Sri Lanka đã tổ chức lễ hội Poson vào ngày trăng tròn tháng 6 năm 2014. Dù gặp phải những cơn mưa xối xả, nhưng các thành phố và các ngôi chùa đều tràn ngập du khách và người hành hương thuộc tất cả mọi lứa tuổi. Một vài số thành phố đã thiết trí những lễ đài (Pandols) và treo lồng đèn mô tả sự tích về sự xuất hiện của Phật giáo ở Sri Lanka. Các lễ đài diễn tả những câu chuyện về Phật giáo bằng cách sử dụng các hình ảnh, ánh sáng và âm thanh. Những câu chuyện tiền thân được vẽ trên bảng lớn rồi dựng lên trên lễ đài có thể cao đến 10 mét. Những ngôi nhà lấp lánh đèn dầu dừa màu sắc rực rỡ, và những đồ trang trí đã làm cho khu dân cư trở nên sinh động và mở cửa đón chào du khách. Tổng thống Mahinda Rajapaksa kính lễ gốc cây bồ đề thiêng liêng tại Anuradhapura Poson là một sự kiện quan trọng hàng năm trong lịch Phật giáo Sri Lanka nhằm kỷ niệm sự xuất hiện của Phật giáo ở Sri Lanka vào thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch, dưới thời trị vì của vua Devanam Piyat...